Đức Tin Iman Nơi Các Vị Thiên Sứ
Các vị Thiên sứ là những người phàm tục được Allah mặc khải các Kinh sách, các Chỉ đạo cho họ, và được lệnh mang chúng đi truyền bá cho nhân loại.
Và vị Thiên sứ đầu tiên trong các vị Thiên sứ là Nuh (Noah) u còn vị Thiên sứ cuối cùng là Nabi Muhammad e.
Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc phán:
﴿ إِنَّآ أَوۡحَيۡنَآ إِلَيۡكَ كَمَآ أَوۡحَيۡنَآ إِلَىٰ نُوحٖ وَٱلنَّبِيِّۧنَ مِنۢ بَعۡدِهِۦۚ ﴾ (سورة النساء: 163)
{Quả thật, TA đã mặc khải cho Ngươi (Muhammad!) giống như TA đã mặc khải cho Nuh và các Nabi sau Y} (Chương 4 – Annisa, câu 163).
Và trong Sahih Albukhari, ông Anas bin Malik thuật lại rằng Nabi e có nói về vấn đề cầu xin ân xá ở Ngày phán xét:
« فَيَأْتُونَ آدَمَ فَيَقُولُونَ أَنْتَ الَّذِى خَلَقَكَ اللهُ بِيَدِهِ ، وَنَفَخَ فِيكَ مِنْ رُوحِهِ ، وَأَمَرَ الْمَلاَئِكَةَ فَسَجَدُوا لَكَ ، فَاشْفَعْ لَنَا عِنْدَ رَبِّنَا . فَيَقُولُ لَسْتُ هُنَاكُمْ - وَيَذْكُرُ خَطِيئَتَهُ وَيَقُولُ - ائْتُوا نُوحًا أَوَّلَ رَسُولٍ بَعَثَهُ اللهُ »
“Mọi người chạy đến gặp Nabi Adam, họ nói với Người: Người là người được Allah đã tạo hóa bằng chính đôi tay của Ngài, chính Ngài đã thổi linh hồn vào cho Người và Ngài đã ra lệnh cho các Thiên thần quì xuống phủ phục Người, vậy xin Người hãy cầu xin Thượng Đế ân xá cho chúng tôi. Nabi Adam bảo rằng Người không có đủ tư cách cho việc này, Người bảo họ: Các ngươi hãy tìm đến Nuh bởi y là vị Thiên sứ đầu tiên được Allah cử phải cho nhân loại ...".
Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc phán về Muhammad e:
﴿ مَّا كَانَ مُحَمَّدٌ أَبَآ أَحَدٖ مِّن رِّجَالِكُمۡ وَلَٰكِن رَّسُولَ ٱللَّهِ وَخَاتَمَ ٱلنَّبِيِّۧنَۗ ﴾ [سورة الأحزاب: 40]
{Muhammad không phải là người cha của một ai trong số đàn ông các ngươi, mà Y chính là Thiên sứ của Allah và là vị Nabi cuối cùng trong các vị Nabi.} (Chương 33 – Al-Ahzab, câu 40).
Quả thật, không có bất kỳ một thời đoạn nào mà Allah không cử một vị Thiên sứ mang một hệ thống giáo luật đến dẫn dắt nhân loại hoặc không cử một vị Nabi chấn chỉnh và phục hồi lại giáo luật trước đó. Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc phán:
﴿ وَلَقَدۡ بَعَثۡنَا فِي كُلِّ أُمَّةٖ رَّسُولًا أَنِ ٱعۡبُدُواْ ٱللَّهَ وَٱجۡتَنِبُواْ ٱلطَّٰغُوتَۖ ﴾ [سورةالنحل : 36]
{Và quả thật, TA đã cử phái đến với mỗi cộng đồng một vị sứ giả với mệnh lệnh rằng hãy thờ phượng Allah và tránh xa tà thần} (Chương 16 – Annahl, câu 36).
﴿ وَإِن مِّنۡ أُمَّةٍ إِلَّا خَلَا فِيهَا نَذِيرٞ ﴾ [سورة فاطر: 24]
{Và không một cộng đồng nào mà không có một Người cảnh báo đến với họ.} (Chương 35 – Fatir, câu 24).
﴿ إِنَّآ أَنزَلۡنَا ٱلتَّوۡرَىٰةَ فِيهَا هُدٗى وَنُورٞۚ يَحۡكُمُ بِهَا ٱلنَّبِيُّونَ ٱلَّذِينَ أَسۡلَمُواْ لِلَّذِينَ هَادُواْ وَٱلرَّبَّٰنِيُّونَ وَٱلۡأَحۡبَارُ بِمَا ٱسۡتُحۡفِظُواْ مِن كِتَٰبِ ٱللَّهِ وَكَانُواْ عَلَيۡهِ شُهَدَآءَۚ﴾ [سورة المائدة: 44]
{Quả thật, TA (Allah) đã ban xuống Kinh Tawrah trong đó là sự chỉ đạo và ánh sáng. Các vị Nabi, những người thần phục Allah đã dùng nó để phân xử cho những người Do thái} (Chương 4 – Al-Ma-idah, câu 44).
Các vị Thiên sứ là những người phàm tục, họ là những tạo vật được Allah tạo ra giống như bao người phàm tục khác nên họ không có đặc quyền về Rububiyah (Không thể chia sẻ quyền năng trong việc tạo hóa cũng như điều hành chế ngự mọi vạn vật cùng với Allah) và cũng không có Uluhiyah (quyền xứng đáng được tôn thờ cùng với Allah).
Allah, Đấng Tối Cao và Toàn Năng đã phán về Muhammad, một vị Nabi cuối cùng trong các số các vị Nabi, một vị Thiên sứ dẫn đầu các vị Thiên sứ của Allah:
﴿ قُل لَّآ أَمۡلِكُ لِنَفۡسِي نَفۡعٗا وَلَا ضَرًّا إِلَّا مَا شَآءَ ٱللَّهُۚ وَلَوۡ كُنتُ أَعۡلَمُ ٱلۡغَيۡبَ لَٱسۡتَكۡثَرۡتُ مِنَ ٱلۡخَيۡرِ وَمَا مَسَّنِيَ ٱلسُّوٓءُۚ إِنۡ أَنَا۠ إِلَّا نَذِيرٞ وَبَشِيرٞ لِّقَوۡمٖ يُؤۡمِنُونَ ١٨٨﴾ [سورة الأعراف: 188]
{Hãy bảo họ (Muhammad): “Ta không có quyền quyết định điều lợi hoặc điều hại cho chính bản thân ta trừ phi điều nào Allah muốn. Và nếu ta thực sự biết điều vô hình thì chắc chắn ta đã tom góp nhiều điều tốt cho ta và chắc chắn ta đã không gặp một điều bất hạnh nào. Quả thật, ta chỉ là một người cảnh báo và là một người mang tin mừng cho những người có đức tin.} (Chương 7 – Al'Araf, câu 188).
﴿ قُلۡ إِنِّي لَآ أَمۡلِكُ لَكُمۡ ضَرّٗا وَلَا رَشَدٗا ٢١ قُلۡ إِنِّي لَن يُجِيرَنِي مِنَ ٱللَّهِ أَحَدٞ وَلَنۡ أَجِدَ مِن دُونِهِۦ مُلۡتَحَدًا ٢٢ ﴾[سورة الجن: 21 ، 22]
{Hãy bảo chúng (Muhammad!): “Quả thật, ta không có quyền năng gieo điều dữ cho các người và cũng không có quyền năng hướng các người theo Chân lý". Hãy bảo chúng (Muhammad!): “Quả thật, không một ai có thể cứu được ta khỏi sự trừng phạt của Allah nếu ta bất tuân Ngài, và ngoài Ngài, ta không bao giờ có thể tìm được một chỗ nương thân và trú ẩn an toàn nào khác.} (Chương 72 – Al-Jinn, câu 21, 22).
Và các vị Thiên sứ này cũng mang những đặc tính tự nhiên của người phàm tục không có gì khác biệt, như họ cũng bệnh tật, chết, cũng có nhu cầu đến việc ăn uống, ...
Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc phán về Nabi Ibrahim u về lời mà Người đã mô tả Thượng Đế của Người:
﴿ وَٱلَّذِي هُوَ يُطۡعِمُنِي وَيَسۡقِينِ ٧٩ وَإِذَا مَرِضۡتُ فَهُوَ يَشۡفِينِ ٨٠ وَٱلَّذِي يُمِيتُنِي ثُمَّ يُحۡيِينِ ٨١ ﴾ [سورة الشعراء: 79 - 81]
{Và Đấng đã tạo ra tôi là Đấng cho tôi ăn và cho tôi uống, và khi tôi bệnh thì Ngài sẽ cho tôi khỏi bệnh, và Ngài là Đấng sẽ làm cho tôi chết rồi phục sinh tôi trở lại.} (Chương 26 – Ash-Shu'ara, câu 79 – 81).
Và Nabi Muhammad e nói:
« إِنَّمَا أَنَا بَشَرٌ مِثْلُكُمْ ، أَنْسَى كَمَا تَنْسَوْنَ ، فَإِذَا نَسِيتُ فَذَكِّرُونِى » رواه البخاري.
“Thật ra Ta chỉ là một con người phàm tục giống như các người, ta quên giống như các người quên, bởi thế, khi nào Ta quên thì các người hãy nhắc Ta!" (Albukhari).
Allah, Đấng Tối Cao và Toàn Năng đã mô tả các vị Thiên sứ của Ngài là những bề tôi quy phục theo mệnh lệnh Ngài, tuy nhiên, họ lại được Ngài nâng lên một địa vị cao hơn những người phàm tục khác bởi sứ mạng được Ngài giao phó cho họ cũng như bởi sự ngoan đạo và lòng kính sợ của họ đối với Ngài. Trong các lời phán của Ngài trong Qur'an thì Ngài thường khen ngợi họ, tiêu biểu như:
Allah phán về Nabi Nuh u:
﴿ إِنَّهُۥ كَانَ عَبۡدٗا شَكُورٗا ﴾ [سورة الإسراء: 3]
{Quả thật, Y (Nuh) là một người bề tôi biết ơn.} (Chương 17 – Al-Isra, câu 3).
Ngài phán về Nabi Muhammad e:
﴿ تَبَارَكَ ٱلَّذِي نَزَّلَ ٱلۡفُرۡقَانَ عَلَىٰ عَبۡدِهِۦ لِيَكُونَ لِلۡعَٰلَمِينَ نَذِيرًا ١ ﴾ [سورة الفرقان: 1]
{Phúc thay Đấng (Allah) đã ban Tiêu chuẩn (phân biệt phúc và tội) xuống cho người bề tôi trung thành và tận tụy của Ngài (Muhammad) để Người trở thành một vị cảnh báo cho muôn loài (Loài người và Jinn).} (Chương 25 – Al-Furqan, câu 1).
Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc phán về Nabi Ibrahim (Abraham), Ishaq (Isaac), và Ya'qub (Jacob) – cầu xin bằng an và phúc lành cho họ:
﴿ وَٱذۡكُرۡ عِبَٰدَنَآ إِبۡرَٰهِيمَ وَإِسۡحَٰقَ وَيَعۡقُوبَ أُوْلِي ٱلۡأَيۡدِي وَٱلۡأَبۡصَٰرِ ٤٥ إِنَّآ أَخۡلَصۡنَٰهُم بِخَالِصَةٖ ذِكۡرَى ٱلدَّارِ ٤٦ وَإِنَّهُمۡ عِندَنَا لَمِنَ ٱلۡمُصۡطَفَيۡنَ ٱلۡأَخۡيَارِ ٤٧﴾ [سورة ص: 45 - 47]
{Và hãy nhớ đến những người bề tôi Ibrahim, Ishaq và Ya'qub của TA. Họ là những người kiên cường và nhìn thấu sự việc. Quả thật, TA đã làm cho họ luôn hết lòng nhớ đến Ngôi nhà (ở Ngày sau). Và quả thật đối với TA, họ đích thực là những người thuộc thành phần ưu tú được tuyển chọn.} (Chương 38 – Sad, câu 45 – 47).
Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc phán về Nabi Ysa (Jesus – Giê-su) u:
﴿ إِنۡ هُوَ إِلَّا عَبۡدٌ أَنۡعَمۡنَا عَلَيۡهِ وَجَعَلۡنَٰهُ مَثَلٗا لِّبَنِيٓ إِسۡرَٰٓءِيلَ ٥٩ ﴾ [سورة الزخرف: 59]
{Y (Ysa) chỉ là một người bề tôi. TA (Allah) ban ân cho Y và lấy Y làm một cái gương cho con cháu của Israel.} (Chương 43 – Azzukhruf, câu 59).
Đức tin Iman nơi các vị Thiên sứ bao hàm bốn điều sau:
ü Thứ nhất: Tin rằng những bức Thông Điệp mà họ mang đến cũng như Sứ mạng của họ đích thực là từ nơi Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc. Người nào phủ nhận Sứ mạng của một vị nào đó trong số họ coi như đã phủ nhận hết tất cả họ. Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc phán:
﴿ كَذَّبَتۡ قَوۡمُ نُوحٍ ٱلۡمُرۡسَلِينَ ١٠٥ ﴾ [سورة الشعراء: 105]
{Người dân của Nuh đã phủ nhận các vị Thiên sứ (của Allah).} (Chương 26 – Ash-Shu'ara, câu 105).
Dĩ nhiên, người dân của Nabi Nuh u chỉ phủ nhận Người, nhưng đối với Allah, Ngài cho đó là việc phủ nhận tất cả các vị Thiên sứ của Ngài. Dựa theo điều này thì việc những người Thiên chúa giáo đã phủ nhận Muhammad e và không chịu đi theo Người tức coi như họ cũng đã phủ nhận Nabi Ysa (Jesus con trai của Maryam) u và đã không theo Người, bởi đích thực Nabi Ysa u đã báo tin cho họ biết trước về Muhammad e, và ý nghĩa của việc báo trước cho họ về Người e có nghĩa là Người e sẽ là vị Thiên sứ của họ, Allah cử phái Người đến dẫn họ khỏi con đường lệch lạc để đến với con đường ngay chính.
ü Thứ hai: Tin vào tất cả họ, những ai được nhắc đến tên của họ và những vị không được nhắc đến.
Những vị Thiên sứ được biết tên của họ như Muhammad, Ibrahim, Musa, Ysa, Nuh – cầu xin bằng an và phúc lành cho họ. Và năm vị này là những vị Thiên sứ ưu tú nhất trong các vị Thiên sứ. Quả thật, Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc đã nhắc đến họ hai chỗ trong Qur'an.
Ở chương 33 – Al-Ahzab câu 7, Allah phán:
﴿ وَإِذۡ أَخَذۡنَا مِنَ ٱلنَّبِيِّۧنَ مِيثَٰقَهُمۡ وَمِنكَ وَمِن نُّوحٖ وَإِبۡرَٰهِيمَ وَمُوسَىٰ وَعِيسَى ٱبۡنِ مَرۡيَمَۖ ﴾ [سورة الأحزاب : 7]
{Và khi TA đã nhận lời giao ước từ các Nabi và từ Ngươi (Muhammad) và từ Nuh, Ibrahim, Musa và Ysa, con trai của Maryam} (Chương 33 – Al-Ahzab, câu 7).
Và ở chương 42 – Ash-Shura câu 13, Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc phán:
﴿ شَرَعَ لَكُم مِّنَ ٱلدِّينِ مَا وَصَّىٰ بِهِۦ نُوحٗا وَٱلَّذِيٓ أَوۡحَيۡنَآ إِلَيۡكَ وَمَا وَصَّيۡنَا بِهِۦٓ إِبۡرَٰهِيمَ وَمُوسَىٰ وَعِيسَىٰٓۖ أَنۡ أَقِيمُواْ ٱلدِّينَ وَلَا تَتَفَرَّقُواْ فِيهِۚ ﴾ [سورة الشورى: 13]
{Ngài đã qui định cho các ngươi tôn giáo mà Ngài đã truyền xuống cho Nuh và tôn giáo mà TA đã mặc khải cho Ngươi (Muhammad) cũng là những gì TA đã truyền cho Ibrahim, Musa và Isa. Hãy giữ vững tôn giáo và chớ chia rẽ trong đó.} (Chương 42 – Ash-Shura, câu 13).
Còn đối với các vị Thiên sứ không được nhắc đến tên của họ thì Allah có phán:
﴿ وَلَقَدۡ أَرۡسَلۡنَا رُسُلٗا مِّن قَبۡلِكَ مِنۡهُم مَّن قَصَصۡنَا عَلَيۡكَ وَمِنۡهُم مَّن لَّمۡ نَقۡصُصۡ عَلَيۡكَۗ ﴾ [سورة غافر: 78]
{Và quả thật, TA (Allah) đã cử phái các Sứ giả đến với nhân loại trước Ngươi. Trong số đó có người TA đã kể cho Ngươi câu chuyện của họ và có người TA không kể câu chuyện của họ cho Ngươi.} (Chương 40 – Ghafir, câu 78).
ü Thứ ba: Tin vào những gì họ mang đến khi nó được xác thực rằng không bị sửa đổi và bóp méo.
ü Thứ tư: Chấp hành thực hiện theo những giáo luật được vị Thiên sứ cuối cùng trong số họ mang đến, đó là Nabi Muhammad e, một vị Thiên sứ được cử phái đến cho toàn thể nhân loại và cho cả loại Jinn.
Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc phán:
﴿ فَلَا وَرَبِّكَ لَا يُؤۡمِنُونَ حَتَّىٰ يُحَكِّمُوكَ فِيمَا شَجَرَ بَيۡنَهُمۡ ثُمَّ لَا يَجِدُواْ فِيٓ أَنفُسِهِمۡ حَرَجٗا مِّمَّا قَضَيۡتَ وَيُسَلِّمُواْ تَسۡلِيمٗا ٦٥ ﴾ [سورة النساء: 65]
{Thề bời Thượng Đế của Ngươi (Muhammad) rằng chúng sẽ không tin tưởng cho đến khi nào chúng đề cử Ngươi đứng ra phân xử về điều mà chúng tranh chấp rồi chúng cảm thấy không uất ức trong lòng về quyết định mà Ngươi đã đưa ra và chúng hoàn toàn quy phục.} (Chương 4 – Annisa, câu 65).
Đức tin Iman nơi các Thiên sứ mang lại những giá trị tiêu biểu sau:
Ø Hiểu được rằng Allah, Đấng Tối Cao và Toàn Năng luôn yêu thương và quan tâm đến đám bầy tồi của Ngài trong việc Ngài cử các vị Thiên sứ đến hướng dẫn họ tới con đường chân lý của Ngài. Các vị Thiên sứ đã dạy họ cách thờ phượng Allah bởi lẽ trí tuệ của con người phàm tục không thể ý thức được điểu đó một cách độc lập.
Ø Biết tri ân và tạ ơn Allah về những ân huệ to lớn mà Ngài đã ban cho.
Ø Biết yêu thương các vị Thiên sứ của Allah, tôn kính và ca ngợi họ về những nhiệm vụ thiêng liêng của họ, bởi họ là các vị Thiên sứ của Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc, bởi họ là những người hết lòng thờ phượng Ngài, họ đã tận tâm trong việc truyền bá bức Thông điệp của Ngài và chân thành khuyên răn dạy bảo những bề tôi của Ngài.
Quả thật, những kẻ không tin tưởng đã phủ nhận các vị Thiên sứ của họ, họ cho rằng các Thiên sứ của Allah không thể nào là những con người phàm tục được. Allah đã phán về sự khẳng định này của họ đồng thời bác bỏ nó:
﴿ وَمَا مَنَعَ ٱلنَّاسَ أَن يُؤۡمِنُوٓاْ إِذۡ جَآءَهُمُ ٱلۡهُدَىٰٓ إِلَّآ أَن قَالُوٓاْ أَبَعَثَ ٱللَّهُ بَشَرٗا رَّسُولٗا ٩٤ قُل لَّوۡ كَانَ فِي ٱلۡأَرۡضِ مَلَٰٓئِكَةٞ يَمۡشُونَ مُطۡمَئِنِّينَ لَنَزَّلۡنَا عَلَيۡهِم مِّنَ ٱلسَّمَآءِ مَلَكٗا رَّسُولٗا ٩٥ ﴾ [سورة الإسراء: 94، 95]
{Và không có gì cản trở nhân loại tin tưởng khi Chỉ đạo đã đến với họ ngoại trừ điều mà họ nói: “Há Allah đã lấy một người phàm tục làm một Sứ giả của Ngài ư?". Hãy bảo họ (Muhammad!): “Nếu các vị Thiên thần có thể đi lại một cách yên ổn trên trái đất là chắc chắn TA (Allah) sẽ phái một Thiên thần từ trên trời xuống làm Sứ giá".} (Chương 17 – Al-Isra, câu 94, 95).
Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc đã bác bỏ sự khẳng định không đúng đắn của họ rằng vị Sứ giả phải là người phàm bởi vì sứ giả là vị được Ngài cử phái đến với cư dân nơi trái đất, nếu như ở trái đất, cư dân của nó là các Thiên thần thì chắc chắc Ngài sẽ cử phái một vị Thiên sứ là một vị Thiên thần từ trên trời xuống, như thế mới phù hợp. Và bởi vậy, Allah đã phán nói về những người đã phủ nhận các Thiên sứ, họ nói:
﴿ إِنۡ أَنتُمۡ إِلَّا بَشَرٞ مِّثۡلُنَا تُرِيدُونَ أَن تَصُدُّونَا عَمَّا كَانَ يَعۡبُدُ ءَابَآؤُنَا فَأۡتُونَا بِسُلۡطَٰنٖ مُّبِينٖ ١٠ قَالَتۡ لَهُمۡ رُسُلُهُمۡ إِن نَّحۡنُ إِلَّا بَشَرٞ مِّثۡلُكُمۡ وَلَٰكِنَّ ٱللَّهَ يَمُنُّ عَلَىٰ مَن يَشَآءُ مِنۡ عِبَادِهِۦۖ وَمَا كَانَ لَنَآ أَن نَّأۡتِيَكُم بِسُلۡطَٰنٍ إِلَّا بِإِذۡنِ ٱللَّهِۚ ١١ ﴾ [سورة إبراهيم: 10، 11]
{“Quí vị chỉ là những con người phàm tục như chúng tôi mà thôi. Quí vị có ý muốn làm cho chúng tôi bỏ những thần linh mà cha mẹ chúng tôi đã từng thờ phượng. Thế quí vị hãy trưng cho chúng tôi thấy một vài bằng chứng về thẩm quyền của vị quị xem".Những vị Sứ giả của họ bảo: Quả thật chúng tôi chỉ là những người phàm như các người, nhưng Allah ban ân huệ cho người nào Ngài muốn trong số đám bề tôi của Ngài. Và chúng tôi chỉ có thể trưng bày cho các người một dấu hiệu khi nào Allah cho phép.} (Chương 14 – Ibrahim, câu 10, 11).