Bài học thứ nhất Giảng Giải Ý Nghĩa “لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ"

img

Marqoom

หมวดหมู่ :

ภาษา : Vietnamese

การดู : 72

เพิ่มไปยังรายการโปรด : 0

 “لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ" phiên âm tiếng Việt “La ilaha illolloh" có nghĩa là không có Thượng Đế đích thực nào đáng được thờ phượng mà chỉ có một mình Allah duy nhất.

Từ “إِلَهَ" “ilah" có nghĩa là Thượng Đế Tối Cao tức Đấng đáng được thờ phượng.

Tất cả những gì được thờ phượng ngoài Allah và sự thờ phượng chúng đều là sự sai quấy và không chân lý. Người nào thờ phượng ai (vật gì) ngoài Allah thì người đó là kẻ thờ đa thần (Mushrik) vô đức tin, như Allah, Đấng Tối Cao phán:

﴿وَمَن يَدۡعُ مَعَ ٱللَّهِ إِلَٰهًا ءَاخَرَ لَا بُرۡهَٰنَ لَهُۥ بِهِۦ فَإِنَّمَا حِسَابُهُۥ عِندَ رَبِّهِۦٓۚ إِنَّهُۥ لَا يُفۡلِحُ ٱلۡكَٰفِرُونَ ١١٧﴾ [سورة المؤمنون: 117]

{Và ai cầu nguyện một thần linh khác cùng với Allah mà không có một bằng chứng nào về việc (thờ phượng) đó thì việc thanh toán của y là ở nơi Thượng Đế (Allah) của y. Quả thật, những kẻ không có đức tin sẽ không thành đạt.} (Chương 23 – Al-Mu'minun, câu 117).

Do đó, không được phép thờ phượng cùng với Allah bất cứ ai (vật gì), không được thờ phương cây cối, đá, ... các vị ngoan đạo, cho dù đó có là vị Nabi được cử đến hay một vị Thiên thần cận kề với Allah đi chăng nữa, bởi vì sự thờ phượng chỉ dành riêng duy nhất cho một mình Ngài.

Allah tạo ra chúng ta cũng vì mục đích đó, như Ngài đã phán:

﴿ وَمَا خَلَقۡتُ ٱلۡجِنَّ وَٱلۡإِنسَ إِلَّا لِيَعۡبُدُونِ ٥٦ ﴾ [سورة الذاريات : 56]

{Và TA tạo hóa loài Jinn và loài người mục đích chỉ để chúng thờ phượng riêng TA} (Chương 51 – Azh-zhariyat, câu 56).

﴿ قُلۡ هُوَ ٱللَّهُ أَحَدٌ ١ ﴾ [سورة الإخلاص: 1]

{Hãy nói đi (Muhammad!) rằng Ngài là Allah, là một Đấng duy nhất. } (Chương 112 – Al-Ikhlas, câu 1).

﴿ وَإِلَٰهُكُمۡ إِلَٰهٞ وَٰحِدٞۖ لَّآ إِلَٰهَ إِلَّا هُوَ ٱلرَّحۡمَٰنُ ٱلرَّحِيمُ ١٦٣ ﴾ [البقرة: 163]

{Và Thượng Ðế của các ngươi là một Thượng Ðế duy nhất, Không có Thượng Ðế nào khác, duy chỉ có Ngài (Allah), Ðấng rất mực Nhân từ, rất mực Khoan dung.} (Chương 2 - Al-Baqarah, câu 163).

﴿ هُوَ ٱلۡحَيُّ لَآ إِلَٰهَ إِلَّا هُوَ فَٱدۡعُوهُ مُخۡلِصِينَ لَهُ ٱلدِّينَۗ ٱلۡحَمۡدُ لِلَّهِ رَبِّ ٱلۡعَٰلَمِينَ ٦٥ ﴾ [سورة غافر: 65]

{Ngài (Allah) là Đấng Hằng Sống, không có Thượng Đế nào khác ngoài Ngài cả. Bởi thế, hãy cầu nguyện Ngài, chân thành thờ phượng một mình Ngài. Mọi lợi ca ngợi và tán dương kính dâng lên Allah, Đấng Chủ Tể của vũ trụ và muôn loài.} (Chương 40 – Ghafir, câu 65).

Đây chính là ý nghĩa của Tawhid: độc tôn hóa Allah trong thờ phượng, không được thờ phượng ai (vật gì) ngoài Ngài, chỉ một mình Ngài mới đáng được thờ phượng, và Ngài không có đối tác ngang vai.

Và Tawhid này chính là ý nghĩa của lời Shahadah “لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ", điều mà Allah đã cử phái tất cả các vị Sứ giả của Ngài truyền bá và kêu gọi nhân loại đến với nó, Ngài phán:

﴿ وَمَآ أَرۡسَلۡنَا مِن قَبۡلِكَ مِن رَّسُولٍ إِلَّا نُوحِيٓ إِلَيۡهِ أَنَّهُۥ لَآ إِلَٰهَ إِلَّآ أَنَا۠ فَٱعۡبُدُونِ ٢٥ ﴾ [سورة الأنبياء: 25]

{Và không một vị sứ giả nào được phái đến trước Ngươi (Muhammad) mà không được TA mặc khải ra lệnh cho y truyền bá: Không có Thượng Đế nào khác mà chỉ có TA, bởi thế hãy thờ phượng một mình TA} (Chương 21 – Al-Anbiya, câu 25).

﴿وَلَقَدۡ بَعَثۡنَا فِي كُلِّ أُمَّةٖ رَّسُولًا أَنِ ٱعۡبُدُواْ ٱللَّهَ وَٱجۡتَنِبُواْ ٱلطَّٰغُوتَۖ﴾ [سورةالنحل : 36]

{Và quả thật, TA đã cử phái đến với mỗi cộng đồng một vị sứ giả với mệnh lệnh rằng hãy thờ phượng Allah và tránh xa tà thần} (Chương 16 – Annahl, câu 36).

Quả thật, Allah đã phán kể cho chúng ta biết trong Kinh sách thiêng liêng của Ngài (Qur'an) về các câu chuyện của các vị Thiên sứ cùng với cộng đồng của họ. Ngài cho chúng ta biết rằng nhiệm vụ đầu tiên trong việc truyền bá của các vị Thiên sứ là kêu gọi mọi người đến với Tawhid (độc tôn trong thờ phượng) Allah, Ngài cũng cho chúng ta biết kết quả tốt đẹp của những ai tin tưởng đáp lại lời kêu gọi của các vị Thiên sứ và hậu quả thảm hại của những kẻ đã phủ nhận các vị Thiên sứ của Ngài cũng như những kẻ đã tổ hợp cùng với Allah trong việc tôn thờ.

Allah, Đấng Tối Cao phán:

﴿ لَقَدۡ أَرۡسَلۡنَا نُوحًا إِلَىٰ قَوۡمِهِۦ فَقَالَ يَٰقَوۡمِ ٱعۡبُدُواْ ٱللَّهَ مَا لَكُم مِّنۡ إِلَٰهٍ غَيۡرُهُۥٓ إِنِّيٓ أَخَافُ عَلَيۡكُمۡ عَذَابَ يَوۡمٍ عَظِيمٖ ٥٩ ﴾ [سورة الأعراف: 59]

{Quả thật, TA (Allah) đã cử Nuh (Noah) đến cho người dân của Y. Y bảo họ: “Này hỡi dân ta! Các người hãy thờ phượng Allah, các người không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Ngài. Ta thật lo sợ giùm cho các người về sự trừng phạt vào một Ngày vĩ đại!".} (Chương 7 – Al'Araf, câu 59).

﴿ وَإِلَىٰ عَادٍ أَخَاهُمۡ هُودٗاۚ قَالَ يَٰقَوۡمِ ٱعۡبُدُواْ ٱللَّهَ مَا لَكُم مِّنۡ إِلَٰهٍ غَيۡرُهُۥٓۚ أَفَلَا تَتَّقُونَ ٦٥ ﴾ [سورة الأعراف: 65]

{Và dân tộc Ad, TA đã cử Hud, một người anh em của họ đến với họ. Y bảo họ: “Hỡi dân ta! Các người hãy thờ phượng Allah, các người không có một Thượng Đế nào khác ngoài Ngài. Chẳng lẽ các người không sợ Ngài hay sao?".} (Chương 7 – Al'Araf, câu 59).

﴿ وإِلَىٰ ثَمُودَ أَخَاهُمۡ صَٰلِحٗاۚ قَالَ يَٰقَوۡمِ ٱعۡبُدُواْ ٱللَّهَ مَا لَكُم مِّنۡ إِلَٰهٍ غَيۡرُهُۥۖ ﴾ [سورة الأعراف: 73]

{Và về người dân Thamud, TA đã cử Salih, một người anh em của họ đến với họ. Y bảo họ: “Hỡi dân ta! Các người hãy thờ phượng Allah, các người không có một Thượng Đế nào khác ngoài Ngài".} (Chương 7 – Al'Araf, câu 73).

﴿ وَإِلَىٰ مَدۡيَنَ أَخَاهُمۡ شُعَيۡبٗاۚ قَالَ يَٰقَوۡمِ ٱعۡبُدُواْ ٱللَّهَ مَا لَكُم مِّنۡ إِلَٰهٍ غَيۡرُهُۥۖ﴾ [سورة الأعراف: 85]

{Và về người dân Madyan (Madian), TA đã cử Shu'aib, một người anh em của họ đến với họ. Y bảo họ: “Hỡi dân ta! Các người hãy thờ phượng Allah, các người không có một Thượng Đế nào khác ngoài Ngài".} (Chương 7 – Al'Araf, câu 73).

﴿ وَإِذۡ قَالَ إِبۡرَٰهِيمُ لِأَبِيهِ وَقَوۡمِهِۦٓ إِنَّنِي بَرَآءٞ مِّمَّا تَعۡبُدُونَ ٢٦ إِلَّا ٱلَّذِي فَطَرَنِي فَإِنَّهُۥ سَيَهۡدِينِ ٢٧ ﴾ [سورة الزخرف : 26، 27]

{Và (hãy nhớ lại) khi Ibrahim thưa với phụ thân và người dân của y rằng quả thật tôi vô can với những gì mà các người đang thờ phượng. Ngoại trừ Đấng đã tạo hóa tôi, thì Ngài sẽ hướng dẫn tôi.} (Chương 43 – Azzukhruf, câu 26, 27).

﴿ أَمۡ كُنتُمۡ شُهَدَآءَ إِذۡ حَضَرَ يَعۡقُوبَ ٱلۡمَوۡتُ إِذۡ قَالَ لِبَنِيهِ مَا تَعۡبُدُونَ مِنۢ بَعۡدِيۖ قَالُواْ نَعۡبُدُ إِلَٰهَكَ وَإِلَٰهَ ءَابَآئِكَ إِبۡرَٰهِۧمَ وَإِسۡمَٰعِيلَ وَإِسۡحَٰقَ إِلَٰهٗا وَٰحِدٗا وَنَحۡنُ لَهُۥ مُسۡلِمُونَ ٣٣ ﴾ [سورة البقرة: 133]

{Phải chăng các ngươi (hỡi con cháu của Israel!) đã chứng kiến cảnh Yacob sắp từ trần khi Y bảo các con của Y: Các con sẽ thờ phượng ai sau khi ta mất? Các con của Y thưa: Chúng con sẽ thờ phượng Thượng Đế của tổ tiên cha: Ibrahim, Isma-il và Ishaq, một Thượng Đế duy nhất, và chúng con là những người Muslim thần phục Ngài} (Chương 2 – Albaqarah, câu 133).

Nabi Yusuf u nói:

﴿ ءَأَرۡبَابٞ مُّتَفَرِّقُونَ خَيۡرٌ أَمِ ٱللَّهُ ٱلۡوَٰحِدُ ٱلۡقَهَّارُ ٣٩ ﴾ [سورة يوسف: 39]

{Phải chăng nhiều Thượng Đế khác biệt sẽ tốt hơn hay là một Thượng Đế Allah duy nhất tối thượng tốt hơn?.} (Chương 12 – Yusuf, câu 39).

Tuy nhiên, nhiệm vụ truyền bá của Nabi Muhammad e là kêu gọi tất cả nhân loại, như Allah đã phán:

﴿ وَمَآ أَرۡسَلۡنَٰكَ إِلَّا رَحۡمَةٗ لِّلۡعَٰلَمِينَ ١٠٧ قُلۡ إِنَّمَا يُوحَىٰٓ إِلَيَّ أَنَّمَآ إِلَٰهُكُمۡ إِلَٰهٞ وَٰحِدٞۖ فَهَلۡ أَنتُم مُّسۡلِمُونَ ١٠٨ ﴾ [سورة الأنبياء: 107، 108]

{Và TA gửi Ngươi (Muhammad) đến cốt chỉ để mang đến hồng phúc cho toàn nhân loại.} (Chương 21 – Al-Ambiya', câu 107, 108).

Quả thật, Nabi Muhammad e đã bắt đầu nhiệm vụ truyền bá của Người bằng sự kêu gọi người dân của Người ở Makkah đến với Tawhid, Người e mời gọi họ đến với lời chứng nhận “لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ" và tránh xa việc thờ phượng các thần tượng, nhưng đa số họ đều ngạo mạn từ chối lời mời gọi đến với Tawhid của Người. Allah, Đấng Tối Cao phán về họ:

﴿ إِنَّهُمۡ كَانُوٓاْ إِذَا قِيلَ لَهُمۡ لَآ إِلَٰهَ إِلَّا ٱللَّهُ يَسۡتَكۡبِرُونَ ٣٥ وَيَقُولُونَ أَئِنَّا لَتَارِكُوٓاْ ءَالِهَتِنَا لِشَاعِرٖ مَّجۡنُونِۢ ٣٦ ﴾ [سورة الصافات: 35، 36]

{Quả thật chúng là những kẻ, khi được nhắc “Không có Thượng Đế nào khác mà chỉ có Allah duy nhất" thì chúng đã tỏ ra ngạo mạn; và chúng bảo: “Sao! Chúng tôi phải bỏ các thần linh của chúng tôi chỉ vì một tên thi sĩ mất trí (Muhammad) hay sao?".} (Chương 37 – Assafat, câu 35, 36).

Allah đã phản hồi lại lời của họ với lời phán của Ngài:

﴿ بَلۡ جَآءَ بِٱلۡحَقِّ وَصَدَّقَ ٱلۡمُرۡسَلِينَ ٣٧ ﴾ [سورة الصافات: 37]

{Không, Y (Muhammad) đã mang đến điều Chân Lý và xác nhận (các thông điệp) của các Sứ giả (của TA).} (Chương 37 – Assafat, câu 37).

Lời Tawhid là lời Chân Lý mà tất cả các Thiên sứ trước Nabi Muhammad e đã kêu gọi đến với nó, và Người e chỉ xác nhận lại nó mà thôi.

Quả thật, những người vô đức tin Quraish đã rất hiểu rằng sự mời gọi đến với Tawhid có nghĩa là sự mời gọi đến với việc từ bỏ những thần linh được thờ phượng khác với Allah, Đấng Tối Cao, Tawhid sẽ không được chứng thực trừ phi phải tránh hoàn toàn sự tổ hợp Shirk. Và họ hiểu đây là ý nghĩa của lời “لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ" tức không có Thượng Đế đích thực nào đáng được thờ phượng mà chỉ có Allah duy nhất.

Ông Umar bin Al-Khattab t thuật lại, Thiên sứ của Allah e nói:

« أُمِرْتُ أَنْ أُقَاتِلَ النَّاسَ حَتَّى يَقُولُوا لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ . فَمَنْ قَالَ لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ ، فَقَدْ عَصَمَ مِنِّى نَفْسَهُ وَمَالَهُ ، إِلاَّ بِحَقِّهِ ، وَحِسَابُهُ عَلَى اللهِ » متفق عليه.

“Ta được lệnh chiến đấu với nhân loại cho đến khi nào họ nói “لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ". Bởi thế, người nào nói “لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ" thì chắc chắn tính mạng và tài sản của y sẽ được bảo toàn từ nơi Ta, ngoại trừ vì điều chân lý, và việc thanh toán đối với y là ở nơi Allah." (Albukhari, Muslim).

Và khi Nabi e gởi các bức thư đến các vị vua chúa thì Người cũng kêu gọi họ đến với Tawhid (tôn thờ một mình Allah duy nhất).

Ông Ibnu Abbas t thuật lại rằng Nabi e đã gửi một bức thư đến vua La mã Hercules với nội dung:

« بِسْمِ اللهِ الرَّحْمَنِ الرَّحِيمِ مِنْ مُحَمَّدٍ رَسُولِ اللهِ ، إِلَى هِرَقْلَ عَظِيمِ الرُّومِ ، سَلاَمٌ عَلَى مَنِ اتَّبَعَ الْهُدَى ، أَمَّا بَعْدُ ، فَإِنِّى أَدْعُوكَ بِدِعَايَةِ الإِسْلاَمِ ، أَسْلِمْ تَسْلَمْ ، وَأَسْلِمْ يُؤْتِكَ اللهُ أَجْرَكَ مَرَّتَيْنِ ، فَإِنْ تَوَلَّيْتَ فَإِنَّ عَلَيْكَ إِثْمَ الأَرِيسِيِّينَ ، وَ ﴿يَٰٓأَهۡلَ ٱلۡكِتَٰبِ تَعَالَوۡاْ إِلَىٰ كَلِمَةٖ سَوَآءِۢ بَيۡنَنَا وَبَيۡنَكُمۡ أَلَّا نَعۡبُدَ إِلَّا ٱللَّهَ وَلَا نُشۡرِكَ بِهِۦ شَيۡٔٗا وَلَا يَتَّخِذَ بَعۡضُنَا بَعۡضًا أَرۡبَابٗا مِّن دُونِ ٱللَّهِۚ فَإِن تَوَلَّوۡاْ فَقُولُواْ ٱشۡهَدُواْ بِأَنَّا مُسۡلِمُونَ ٦٤ ﴾ [آل عمران: 64] . » متفق عليه.

“Nhân danh Allah, Đấng rất mực Độ lượng, Đấng rất mực Khoan dung.

Từ Muhammad, Thiên sứ của Allah gởi đến Hercules, đức Vua La mã. Xin chào an lành đến những ai đi theo sự Chỉ đạo.

Quả thật, Tôi mời gọi ngài đến với Islam, nếu ngài thuận vào Islam thì ngài sẽ được an lành, nếu ngài thuận vào Islam thì Allah sẽ ban cho ngài hai lần ân phước, còn nếu như ngài từ chối không thuận thì quả thật ngài sẽ phải chịu tội của toàn dân. Và {hỡi người dân Kinh sách! Các người hãy cùng đến với một Lời phán giống nhau giữa chúng tôi và quí vị rằng chúng ta chỉ thờ phượng một mình Allah duy nhất, và chúng ta không tổ hợp bất cứ ai (vật gì) cùng với Ngài (Allah), và không ai giữa chúng ta sẽ thờ các vị chủ tể nào khác ngoài Allah. Nhưng nếu họ quay bỏ đi thì hãy bảo họ: “Hãy chứng thực rằng chúng tôi là những người Muslim (thần phục Allah).} (Chương 3 – Ali-Imran, câu 64)." (Albukhari, Muslim).

Nabi e đã gửi đi bức thư tương tự như bức thư này đến với các vị vua khác như Chosroes, vua của Ba tư, Cyrus, vua của Copts, vua của Abyssinia (nay gọi là Ethiopia), vua Jayfar và Iyazd hai đứa con của Amman, Hawzah bin Ali của Al-Yamamah, Al-Munzhir bin Sawa của Hajar, Ibnu Abu Shamir Alghassani,.. đây là những vị vua đương thời của trong thời của Nabi e.

Và trong Sahih Muslim có ghi, Anas bin Malik t thuật lại rằng Nabi e đã cho viết thư gởi đi đến tất cả các vị vua để kêu gọi họ đến với Allah, Đấng Tối Cao.

Ông Ibnu Abbas t thuật lại rằng khi Nabi e cử Mu'azd đi Yemen thì Người đã nói với ông:

« إِنَّكَ تَقْدَمُ عَلَى قَوْمٍ مِنْ أَهْلِ الْكِتَابِ فَلْيَكُنْ أَوَّلَ مَا تَدْعُوهُمْ إِلَى أَنْ يُوَحِّدُوا اللهَ تَعَالَى » رواه البخاري.

“Quả thật, ngươi hãy đi đến một nhóm người thuộc dân Kinh sách (Thiên Chúa và Do Thái), và điều trước tiên Người cần mời gọi họ là kêu gọi họ tôn thờ duy nhất một mình Allah, Đấng Tối Cao". (Albukhari).

Như vậy, việc độc tôn hóa Allah, Đấng Tối Cao là chiếc chìa khóa để vào tôn giáo Islam, nếu không có nó thì một người không thể trở thành một người Muslim, và nếu như người bề tôi phạm vào những điều nghịch lại với Tawhid thì y sẽ trở thành người vô đức tin tôn thờ đa thần, bị trục xuất khỏi tôn giáo Islam.

Một Hadith Sahih được ghi lại:

عَنْ مُعَاذِ بْنِ جَبَلٍ قَالَ قَالَ النَّبِىُّ - صلى الله عليه وسلم - « يَا مُعَاذُ أَتَدْرِى مَا حَقُّ اللهِ عَلَى الْعِبَادِ » . قَالَ اللهُ وَرَسُولُهُ أَعْلَمُ . قَالَ « أَنْ يَعْبُدُوهُ وَلاَ يُشْرِكُوا بِهِ شَيْئًا ، أَتَدْرِى مَا حَقُّهُمْ عَلَيْهِ » . قَالَ اللهُ وَرَسُولُهُ أَعْلَمُ . قَالَ « أَنْ لاَ يُعَذِّبَهُمْ » متفق عليه.

Ông Mu'azd bin Jabal t thuật lại, Thiên sứ của Allah e nói với ông: “Này Mu'azd! Cậu có biết nghĩa vụ của bầy tôi đối với Allah là gì không?". Ông nói: Allah và Thiên sứ của Ngài biết rõ hơn hết. Người e nói: “Nghĩa vụ của bầy tôi đối với Allah là phải thờ phờ phượng Ngài và không được tổ hợp (Shirk) bất cứ thứ gì cùng với Ngài". Rồi sau đó, Người e lại nói: “Này Mu'azd! Vậy cậu có biết quyền lợi của bầy tôi đối với Allah là gì không nếu họ đã thực hiện nghĩa vụ đó?". Ông nói: Allah và Thiên sứ của Ngài biết rõ hơn hết. Người e nói: “Quyền lợi của bầy tôi đối với Allah nếu họ thực hiện nghĩa vụ đó là Ngài sẽ không trừng phạt họ." (Albukhari, Muslim).

Và đây chính là Islam, điều mà Allah đã sắc lệnh, Ngài phán:

﴿ قُلۡ إِنِّي نُهِيتُ أَنۡ أَعۡبُدَ ٱلَّذِينَ تَدۡعُونَ مِن دُونِ ٱللَّهِ لَمَّا جَآءَنِيَ ٱلۡبَيِّنَٰتُ مِن رَّبِّي وَأُمِرۡتُ أَنۡ أُسۡلِمَ لِرَبِّ ٱلۡعَٰلَمِينَ ٦٦ ﴾ [سورة غافر: 66]

{Hãy bảo chúng (Muhammad!): “Quả thật, Ta bị (Allah) cấm thờ phượng những ai (vật) mà các người cầu nguyện khác Ngài khi Ta đã nhận được những bằng chứng rõ rệt từ Thượng Đế của Ta. Và Ta được lệnh phải thần phục Thượng Đế của vũ trụ và muôn loài".} (Chương 40 – Ghafir, câu 66).

﴿ وَمَآ أُمِرُوٓاْ إِلَّا لِيَعۡبُدُواْ ٱللَّهَ مُخۡلِصِينَ لَهُ ٱلدِّينَ حُنَفَآءَ وَيُقِيمُواْ ٱلصَّلَوٰةَ وَيُؤۡتُواْ ٱلزَّكَوٰةَۚ وَذَٰلِكَ دِينُ ٱلۡقَيِّمَةِ ٥ ﴾ [سورة البينة: 5]

{Và họ được lệnh chỉ phải thờ phụng riêng Allah, triệt để thần phục Ngài một cách chính trực và dâng lễ nguyện Salah một cách chu đáo và đóng Zakah, và đó là tôn giáo đúng đắn.} (Chương 98 – Al-Bayyinah, câu 5).

﴿ فَٱدۡعُواْ ٱللَّهَ مُخۡلِصِينَ لَهُ ٱلدِّينَ وَلَوۡ كَرِهَ ٱلۡكَٰفِرُونَ ١٤ ﴾ [سورة غافر: 14]

{Bởi thế, các ngươi hãy thành tâm cầu nguyện Allah, triệt để thần phục một mình Ngài duy nhất cho dù những kẻ vô đức tin có căm ghét điều đó.} (Chương 40 – Ghafir, câu 14).

﴿ قُلۡ يَٰٓأَيُّهَا ٱلنَّاسُ إِن كُنتُمۡ فِي شَكّٖ مِّن دِينِي فَلَآ أَعۡبُدُ ٱلَّذِينَ تَعۡبُدُونَ مِن دُونِ ٱللَّهِ وَلَٰكِنۡ أَعۡبُدُ ٱللَّهَ ٱلَّذِي يَتَوَفَّىٰكُمۡۖ وَأُمِرۡتُ أَنۡ أَكُونَ مِنَ ٱلۡمُؤۡمِنِينَ ١٠٤ وَأَنۡ أَقِمۡ وَجۡهَكَ لِلدِّينِ حَنِيفٗا وَلَا تَكُونَنَّ مِنَ ٱلۡمُشۡرِكِينَ ١٠٥ وَلَا تَدۡعُ مِن دُونِ ٱللَّهِ مَا لَا يَنفَعُكَ وَلَا يَضُرُّكَۖ فَإِن فَعَلۡتَ فَإِنَّكَ إِذٗا مِّنَ ٱلظَّٰلِمِينَ ١٠٦ ﴾ [سورة يونس: 106 -104]

{Hãy bảo người dân: “Hỡi nhân loại! Nếu các người nghi ngờ về tôn giáo của ta thì hãy biết rằng ta không thờ phượng những kẻ mà các người thờ phượng. Ngược lại, ta thờ phượng Allah, Đấng sẽ làm cho các người chết và ta được lệnh phải trở thành một người có đức tin. Và chớ cầu nguyện ngoài Allah những kẻ không mang lại lợi ích cũng chẳng gây hại được Ngươi; nếu làm thế thì chắc chắn Ngươi sẽ là một kẻ sai phạm.} (Chương 10 – Yunus, câu 106).