Bài học thứ tám Cảnh Báo Về Shirk Và Giảng Giải Các Dạng Thức Của Nó

img

Marqoom

หมวดหมู่ :

ภาษา : Vietnamese

การดู : 189

เพิ่มไปยังรายการโปรด : 0

Allah, Đấng Tối Cao phán:

﴿ وَٱعۡبُدُواْ ٱللَّهَ وَلَا تُشۡرِكُواْ بِهِۦ شَيۡٔٗاۖ ﴾ [سورة النساء: 36]

{Các ngươi hãy thờ phượng Allah và tuyệt đối không được Shirk với Ngài (tổ hợp với Ngài trong thờ phượng) bất cứ cái gì.} (Chương 4 – Annisa', câu 36).

﴿ إِنَّ ٱلشِّرۡكَ لَظُلۡمٌ عَظِيمٞ ١٣ ﴾ [سورة لقمان: 13]

{Quả thật, Shirk là điều sai quấy vô cùng nghiêm trọng.} (Chương 31 – Luqman, câu 13).

﴿ إِنَّهُۥ مَن يُشۡرِكۡ بِٱللَّهِ فَقَدۡ حَرَّمَ ٱللَّهُ عَلَيۡهِ ٱلۡجَنَّةَ وَمَأۡوَىٰهُ ٱلنَّارُۖ وَمَا لِلظَّٰلِمِينَ مِنۡ أَنصَارٖ ٧٢ ﴾ [سورة المائدة: 72]

{Quả thật, người nào làm điều Shirk với Allah thì y sẽ bị cấm vào Thiên Đàng và chỗ ở của y sẽ là nơi Hỏa ngục. Và những kẻ làm điều sai quấy sẽ không được ai giúp đỡ} (Chương 5 – Al-Ma-idah, câu 72).

﴿ إِنَّ ٱللَّهَ لَا يَغۡفِرُ أَن يُشۡرَكَ بِهِۦ وَيَغۡفِرُ مَا دُونَ ذَٰلِكَ لِمَن يَشَآءُۚ وَمَن يُشۡرِكۡ بِٱللَّهِ فَقَدۡ ضَلَّ ضَلَٰلَۢا بَعِيدًا ١١٦ ﴾ [سورة النساء: 116]

{Quả thật, Allah không tha thứ cho tội Shirk mà Ngài chỉ tha thứ cho các tội lỗi khác đối với ai Ngài muốn. Và người nào Shirk với Allah thì quả thật y đã quá lầm lạc.} (Chương 4 – Annisa', câu 116).

Ông Abdullah bin Mas'ud t thuật lại: Tôi đã hỏi Thiên sứ của Allah e: Tội nào là lớn nhất? Người nói:

« أَنْ تَجْعَلَ لِلهِ نِدًّا وَهْوَ خَلَقَكَ » متفق عليه.

“Đó là ngươi gán cho Allah một thần linh ngang hàng trong khi Ngài đã tạo hóa ngươi" (Albukhari, Muslim).

Ông Jabir bin Abdullah t thuật lại, Thiên sứ của Allah e nói:

« مَنْ لَقِىَ اللهَ لاَ يُشْرِكُ بِهِ شَيْئًا دَخَلَ الْجَنَّةَ وَمَنْ لَقِيَهُ يُشْرِكُ بِهِ دَخَلَ النَّارِ » رواه مسلم.

“Người nào trình diện Allah mà không làm điều Shirk với Ngài một điều gì thì sẽ được vào Thiên Đàng, còn người nào trình diện Ngài với tình trạng làm điều Shirk với Ngài thì sẽ bị đày vào Hỏa Ngục." (Muslim).

Shirk là sự thờ phượng ai (vật gì) khác cùng với Allah. Người nào cầu nguyện cùng với Allah một ai hay một một vật gì dù là cầu nguyện mang tính van vái cầu xin hay cầu nguyện mang tính thờ phương thì người đó là người làm điều Shirk (thờ đa thần), vô đức tin, bởi vì y đã gán cho Allah những thần linh ngang vai cùng với Ngài trong thờ phượng trong khi Ngài không hài lòng việc tổ hợp với Ngài bất cứ một ai (vật gì) ngoài Ngài trong thờ phượng, dù kẻ được tổ hợp đó là vị Nabi được cử phái đến, hay Thiên thần cận kề bên Ngài đi chăng nữa, Ngài chỉ hài lòng khi sự thờ phượng được dành riêng cho một mình Ngài duy nhất, và đó là chân lý.

Allah, Đấng Tối Cao phán:

﴿ إِنِ ٱلۡحُكۡمُ إِلَّا لِلَّهِ أَمَرَ أَلَّا تَعۡبُدُوٓاْ إِلَّآ إِيَّاهُۚ ﴾ [سورة يوسف: 40]

{Quả thật mọi điều luật đều là của Allah, Ngài ra lệnh cho các ngươi không được thờ phượng ai ngoài Ngài.} (Chương 12 – Yusuf, câu 40).

﴿ قُلۡ أَرَءَيۡتُمۡ شُرَكَآءَكُمُ ٱلَّذِينَ تَدۡعُونَ مِن دُونِ ٱللَّهِ أَرُونِي مَاذَا خَلَقُواْ مِنَ ٱلۡأَرۡضِ ﴾ [سورة فاطر: 40]

{Hãy bảo chúng: “Các người có nhìn thấy những kẻ mà các người đã tổ hợp, những kẻ mà các người cầu nguyện đến chúng ngoài Allah (tạo ra những gì)? Các người hãy chỉ cho ta thấy vật gì mà chúng đã tạo ra dưới đất xem nào?} (Chương 35 – Fatir, câu 40).

﴿ وَمَن يَدۡعُ مَعَ ٱللَّهِ إِلَٰهًا ءَاخَرَ لَا بُرۡهَٰنَ لَهُۥ بِهِۦ فَإِنَّمَا حِسَابُهُۥ عِندَ رَبِّهِۦٓۚ إِنَّهُۥ لَا يُفۡلِحُ ٱلۡكَٰفِرُونَ ١١٧ ﴾ [سورة المؤمنون: 117]

{Và ai cầu nguyện một thần linh khác cùng với Allah mà không có một bằng chứng nào về việc (thờ phượng) đó thì việc thanh toán của y là ở nơi Thượng Đế (Allah) của y. Quả thật, những kẻ không có đức tin sẽ không thành đạt.} (Chương 23 – Al-Mu'minun, câu 117).

Như vậy, người nào cầu nguyện ai (vật gì) khác ngoài Allah thì người đó là kẻ thờ đa thần (làm điều Shirk).

Shirk là một đại tội nặng nhất trong các đại tội, nó là điều nghiêm trọng nhất trong các điều mà Allah nghiêm cấm, nó là sự bất công trên mọi bất công, nó là điều hủy đi sự giao ước của Allah với người bề tôi, nó là cái đã tước lấy đi cái quyền chỉ dành riêng cho Allah và nó đi ngược lại với mục đích mà Ngài táo hóa ra con người và vũ trụ, mục đích đó là thờ phượng một mình Ngài duy nhất không được tổ hợp với Ngài một đồng đẳng ngang vai.

Và không tội lỗi nào bị trừng phạt nặng hơn tội Shirk cả trên thế gian và ở cõi Đời Sau.

Ở trên thế gian họ sẽ bị Allah ghét bỏ và giận dữ, như Ngài phán:

﴿ إِنَّ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ يُنَادَوۡنَ لَمَقۡتُ ٱللَّهِ أَكۡبَرُ مِن مَّقۡتِكُمۡ أَنفُسَكُمۡ إِذۡ تُدۡعَوۡنَ إِلَى ٱلۡإِيمَٰنِ فَتَكۡفُرُونَ ١٠ ﴾ [سورة غافر: 10]

{Quả thật, những ai không có đức tin sẽ bị mắng: “Chắc chắn Allah ghét bỏ các người còn hơn việc các người ruồng ghét lẫn nhau khi các người được mời chấp nhận đức tin nhưng các người đã từ chối".} (Chương 40 – Ghafir, câu 10).

Song song với việc bị Allah ghét bỏ thì họ còn phải chịu nhiều hình phạt khác trên thế gian chẳng hạn như bị lầm lạc vì không được Allah hướng dẫn, luôn sống với trạng thái bất an, phiền muộn, do dự và nghi ngờ, khốn đốn và chật hẹp, và nếu như họ được ban cho sự hưởng thụ trên thế gian đi chăng nữa thì sự hưởng thụ đó rất ngắn ngủi rồi cuối cùng họ cũng phải mãn hạn trên thế gian để trở về với cuộc sống Đời Sau, và ở đây chắc chắn họ phải chịu hình phạt thật nặng nề và đau đớn.

Allah, Đấng Tối Cao phán:

﴿ لَا يَغُرَّنَّكَ تَقَلُّبُ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ فِي ٱلۡبِلَٰدِ ١٩٦ مَتَٰعٞ قَلِيلٞ ثُمَّ مَأۡوَىٰهُمۡ جَهَنَّمُۖ وَبِئۡسَ ٱلۡمِهَادُ ١٩٧ ﴾ [سورة آل عمران: 196، 197]

{Ngươi (Muhammad) chớ bị mắc lừa bởi việc đi lại hí hửng trên mặt đất của những kẻ không có đức tin. Đó chỉ là một sự hưởng thụ tạm bợ ngắn ngủi, rồi đây nơi ở của chúng sẽ là Hỏa ngục, một nơi ở thật tồi tệ và khủng khiếp nhất.} (Chương 3 – Ali – Imran, câu 196, 197).

﴿ وَمَن كَفَرَ فَلَا يَحۡزُنكَ كُفۡرُهُۥٓۚ إِلَيۡنَا مَرۡجِعُهُمۡ فَنُنَبِّئُهُم بِمَا عَمِلُوٓاْۚ إِنَّ ٱللَّهَ عَلِيمُۢ بِذَاتِ ٱلصُّدُورِ ٢٣ نُمَتِّعُهُمۡ قَلِيلٗا ثُمَّ نَضۡطَرُّهُمۡ إِلَىٰ عَذَابٍ غَلِيظٖ ٢٤ ﴾ [سورة لقمان: 23 ، 24]

{Và ai không có đức tin, thì chớ để cho sự vô đức tin của y làm cho Ngươi (Muhammad) buồn lòng. Bởi vì chắc chắn chúng sẽ trở lại trình diện TA, lúc đó, TA sẽ cho chúng biết về những việc mà chúng đã làm. Quả thật, Allah là Đấng Hằng Biết điều thầm kín trong lòng các ngươi. TA bỏ mặc cho chúng hưởng lạc trong một thời gian ngắn rồi TA sẽ lôi chúng đến chỗ trừng phạt vô cùng khắc nghiệt.} (Chương 31 – Luqman, câu 23, 24).

﴿ وَمَن كَفَرَ فَأُمَتِّعُهُۥ قَلِيلٗا ثُمَّ أَضۡطَرُّهُۥٓ إِلَىٰ عَذَابِ ٱلنَّارِۖ وَبِئۡسَ ٱلۡمَصِيرُ ١٢٦﴾ [سورة البقرة: 126]

{Và ai không có đức tin thì TA sẽ cho y hưởng thụ một thời gian ngắn ngủi rồi TA sẽ lôi đầu y đến chỗ trừng phạt của Hỏa Ngục, và đó là một nơi đến cuối cùng thật tồi tệ.} (Chương 2 – Albaqarah, câu 126).

Còn ở cõi Đời Sau, ngay khi họ bị bắt hồn thì họ đã phải bị trừng phạt bởi lời nguyền rủa của Allah, linh hồn của họ bị rút ra khỏi thể xác một cách mạnh bạo và đau đớn, rồi họ sẽ nhìn thấy các Thiên thần hành hạ, họ sẽ bị hành hạ trong cõi mộ, và khi được phục sinh trở lại vào Ngày Phục Sinh thì họ sẽ phải chịu một sự chấn động dữ dội, khi đứng trình diện để chờ xét xử thì họ sẽ phải đứng dưới cái nóng thêu đốt của mặt trời ở sát bên trên đỉnh đầu của một Ngày dài tương đương với năm mươi ngàn năm, rồi cuối cùng họ sẽ bị lôi đi vào Lửa của Hỏa Ngục và phải sống trong đó đời đời kiếp kiếp, và phải bị trừng phạt nặng nề nhất không có sự giảm nhẹ một thời khắc nào cả và họ sẽ không bao giờ có ngày trở ra khỏi Hỏa Ngục.

Allah, Đấng Tối Cao phán:

﴿ إِنَّ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ وَمَاتُواْ وَهُمۡ كُفَّارٌ أُوْلَٰٓئِكَ عَلَيۡهِمۡ لَعۡنَةُ ٱللَّهِ وَٱلۡمَلَٰٓئِكَةِ وَٱلنَّاسِ أَجۡمَعِينَ ١٦١ خَٰلِدِينَ فِيهَا لَا يُخَفَّفُ عَنۡهُمُ ٱلۡعَذَابُ وَلَا هُمۡ يُنظَرُونَ ١٦﴾ [سورة البقرة: 161، 162]

{Quả thật, những ai không có đức tin và chết trong lúc họ vẫn là những kẻ không có đức tin thì họ là những kẻ bị Allah, các Thiên thần cùng tất cả nhân loại nguyền rủa. Chúng sẽ ở trong (Hỏa Ngục) đời đời. Hình phạt dành cho chúng sẽ không được giảm nhẹ và chúng sẽ không được buông tha.} (Chương 2 – Albaqarah, câu 161, 162).

﴿ وَٱلَّذِينَ كَفَرُواْ لَهُمۡ نَارُ جَهَنَّمَ لَا يُقۡضَىٰ عَلَيۡهِمۡ فَيَمُوتُواْ وَلَا يُخَفَّفُ عَنۡهُم مِّنۡ عَذَابِهَاۚ كَذَٰلِكَ نَجۡزِي كُلَّ كَفُورٖ ٣٦ وَهُمۡ يَصۡطَرِخُونَ فِيهَا رَبَّنَآ أَخۡرِجۡنَا نَعۡمَلۡ صَٰلِحًا غَيۡرَ ٱلَّذِي كُنَّا نَعۡمَلُۚ أَوَ لَمۡ نُعَمِّرۡكُم مَّا يَتَذَكَّرُ فِيهِ مَن تَذَكَّرَ وَجَآءَكُمُ ٱلنَّذِيرُۖ فَذُوقُواْ فَمَا لِلظَّٰلِمِينَ مِن نَّصِيرٍ ٣٧ ﴾ [سورة فاطر : 36 ، 37]

{Và những kẻ vô đức tin sẽ bị trừng phạt trong Hỏa ngục, họ sẽ không chết và cũng không được giảm nhẹ hình phạt, đó là phần thưởng thỏa đáng mà TA dành cho những kẻ vô đức tin. Và chúng sẽ than khóc trong đó: Lạy Thượng Đế của chúng con, xin hãy cho chúng con ra khỏi (Hỏa ngục) rồi chúng con sẽ làm điều thiện tốt và sống ngoan đạo trở lại.(Allah đáp lại lời chúng): Chẳng phải TA đã cho các ngươi sống đủ lâu để các ngươi có thể tỉnh ngộ nhận lấy sự nhắc nhở và hơn nữa đã cử một người đến cảnh báo cho các ngươi. Bởi thế, các ngươi hãy cứ tiếp tục nếm mùi vị của hình phạt, chắc chắn những kẻ làm điều sai quấy sẽ không có vị cứu tinh nào cả.} (Chương 35 – Fatir, câu 36, 37).

﴿ إِنَّ ٱللَّهَ لَعَنَ ٱلۡكَٰفِرِينَ وَأَعَدَّ لَهُمۡ سَعِيرًا ٦٤ خَٰلِدِينَ فِيهَآ أَبَدٗاۖ لَّا يَجِدُونَ وَلِيّٗا وَلَا نَصِيرٗا ٦٥ يَوۡمَ تُقَلَّبُ وُجُوهُهُمۡ فِي ٱلنَّارِ يَقُولُونَ يَٰلَيۡتَنَآ أَطَعۡنَا ٱللَّهَ وَأَطَعۡنَا ٱلرَّسُولَا۠ ٦٦ وَقَالُواْ رَبَّنَآ إِنَّآ أَطَعۡنَا سَادَتَنَا وَكُبَرَآءَنَا فَأَضَلُّونَا ٱلسَّبِيلَا۠ ٦٧ رَبَّنَآ ءَاتِهِمۡ ضِعۡفَيۡنِ مِنَ ٱلۡعَذَابِ وَٱلۡعَنۡهُمۡ لَعۡنٗا كَبِيرٗا ٦٨ ﴾ [سورة الأحزاب: 64 - 68]

{Quả thật, Allah nguyền rủa những kẻ không có đức tin và Ngài chuẩn bị cho chúng Lửa nơi Hỏa ngục. Chúng sẽ ở trong đó đời đời kiếp kiếp và sẽ không tìm ra một vị che chở hoặc một vị cứu tinh nào cả. Vào Ngày mà bộ mặt của chúng bị lật úp vào Lủa, chúng sẽ than: “Ôi thật khổ thân chúng tôi! Phải chi chúng tôi vâng lệnh Allah và vâng lời Thiên sứ (Muhammad)!". Và chúng sẽ nói: “Lạy Thượng Đế của chúng con, chúng con đã nghe theo các vị cầm đầu và các ông lớn của chúng con; và họ đã dắt chung con đi lạc đường. Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin phạt họ gấp đôi và rủa họ bằng lời nguyền rủa thậm tệ nhât".} (Chương 33 – Al-Ahzab, câu 64 – 68).

Và một trong những bằng chứng cho thấy sự nghiêm trọng của Shirk và bắt buộc phải cảnh giác tránh xa nó là người nào Shirk với Allah sau khi đã vào Islam thì mọi việc làm của y sẽ trở thành vô nghĩa, và y trở thành kẻ vô đức tin thua thiệt một cách thảm hại, giống như là y chưa từng làm gì trước đây cả.

Allah, Đấng Tối Cao phán:

﴿ وَمَن يَبۡتَغِ غَيۡرَ ٱلۡإِسۡلَٰمِ دِينٗا فَلَن يُقۡبَلَ مِنۡهُ وَهُوَ فِي ٱلۡأٓخِرَةِ مِنَ ٱلۡخَٰسِرِينَ ٨٥ ﴾ [سورة آل عمران:85 ]

{Và ai tìm kiếm một tôn giáo nào khác ngoài tôn giáo Islam thì tôn giáo đó của y sẽ không được chấp nhận và vào Ngày Sau y sẽ là đồng bọn của những người thua thiệt} (Chương 3 – Ali 'Imran, câu 85).

﴿ وَلَقَدۡ أُوحِيَ إِلَيۡكَ وَإِلَى ٱلَّذِينَ مِن قَبۡلِكَ لَئِنۡ أَشۡرَكۡتَ لَيَحۡبَطَنَّ عَمَلُكَ وَلَتَكُونَنَّ مِنَ ٱلۡخَٰسِرِينَ ٦٥ بَلِ ٱللَّهَ فَٱعۡبُدۡ وَكُن مِّنَ ٱلشَّٰكِرِينَ ٦٦ ﴾ [سورة الزمر: 65، 66]

{Và quả thật, Ngươi (Muhammad) và những vị Nabi trước Ngươi đã được mặc khải cho biết rằng: Nếu Ngươi làm điều Shirk (thờ phượng một thần linh khác cùng với Allah) thì việc làm của các ngươi sẽ trở thành vô nghĩa và chắc chắn rằng Ngươi sẽ là đồng bọn của những kẻ thất bại thật thảm hại. Các ngươi hãy thờ phượng Allah duy nhất một mình Ngài và hãy là những người luôn biết tạ ơn Ngài} (Chương 39 – Azzumar, câu 65, 66).

Và sau khi Ngài nói về các vị Nabi và ca ngợi tán dương họ trong chương Al-An'am thì Ngài phán:

﴿ وَمِنۡ ءَابَآئِهِمۡ وَذُرِّيَّٰتِهِمۡ وَإِخۡوَٰنِهِمۡۖ وَٱجۡتَبَيۡنَٰهُمۡ وَهَدَيۡنَٰهُمۡ إِلَىٰ صِرَٰطٖ مُّسۡتَقِيمٖ ٨٧ ذَٰلِكَ هُدَى ٱللَّهِ يَهۡدِي بِهِۦ مَن يَشَآءُ مِنۡ عِبَادِهِۦۚ وَلَوۡ أَشۡرَكُواْ لَحَبِطَ عَنۡهُم مَّا كَانُواْ يَعۡمَلُونَ ٨٨ ﴾ [سورة الأنعام: 87، 88]

{Và trong số cha mẹ của họ, và con cái của họ, và anh em của họ, TA đã chọn và hướng dẫn họ theo Chính đạo. Đó là Chỉ Đạo của Allah mà Ngài đã dùng để hướng dẫn ai Ngài muốn trong số bầy tôi của Ngài. Nhưng nếu họ tổ hợp (tôn thờ) những thần linh khác cùng với Allah (trong việc thờ phượng) thì tất cả các việc làm của họ đều trở nên hoài công vô ích.} (Chương 6 - Al-An'am, câu 87, 88).

Các vị Nabi, mặc dù sự đức hạnh và cao quý cũng như sự gần kề của họ ơ nơi Allah, và Ngài rất yêu thương họ, nhưng Ngài sẽ không tha thứ cho họ nếu như họ phạm vào điều Shirk, và như chúng ta đã biết quả thật Allah đã phù hộ cho họ tránh khỏi Shirk, cho nên những ai ngoài các vị Nabi thì giới luật này càng nghiêm khắc hơn. Allah đã giữ lại lời phán này cho chúng ta để chúng ta đọc xướng và suy ngẫm mà nhận thức được mức nghiêm trọng và sự nguy hại của Shirk.

Shirk được chia làm hai loại:
Ø Đại Shirk (Shirk lớn): loại Shirk này đối với hai dạng Tawhid: Rububiyah (sự tạo hóa, chi phố và chế ngự vũ trụ và mọi vạn vật) và Uluhiyah (sự thờ phượng: cầu nguyện, cúng tế, ...)

· Đại Shirk trong dạng Rububiyah: niềm tin rằng Allah có những đối tác trong việc tạo hóa, ban cấp, nuôi dưỡng, chi phối và chế ngự vũ trụ và mọi vạn vật.

· Đại Shirk trong dạng Uluhiyah: cúng tế, dâng lễ, cầu nguyện ai (vật gì) khác ngoài Allah.

· Đại Shirk được biểu hiện bằng con tim, lời nói và hành động:

- Thí dụ về đại Shirk bằng con tim: tin rằng những thần tượng có khả năng chi phối và điều hành vũ trụ, tin rằng chúng có kiến thức về cõi vô hình, chúng mang lại điều lành và gây ra điều dữ; yêu thương các thần tượng, phó thác cho chúng, và hy vọng ở nơi chúng, ... tất cả những điều đó đều là sự thờ phượng bằng con tim không được phép hướng đến ai (vật gì) khác ngoài Allah, người nào hướng những điều này đến ai (vật gì) khác ngoài Allah thì y là kẻ làm điều Shirk (thờ đa thần), vô đức tin.

- Thí dụ về đại Shirk bằng lời nói: cầu nguyện các thần tượng, những lời nói ca tụng, tán dương và tôn vinh các thần tượng, những lời nói phủ nhận Allah.

- Thí dụ về đại Shirk bằng hành động của thể xác: giết tế dâng cúng đến ai (vật gì) khác ngoài Allah, quỳ lạy chúng, ... đây là những việc làm khiến một người bị trục xuất khỏi tôn giáo Islam. Người nào chết mà vẫn chưa sám hối thì Allah sẽ không tha thứ cho y, y sẽ bị Ngài giận dữ và bị đày trong Hỏa Ngục đời đời không có ngày trở ra.

Ø Tiểu Shirk (Shirk nhỏ): Nó là phương tiện cho đại Shirk, nó được gọi trong các văn bản giáo luật là Shirk nhưng không hàm chứa sự hướng việc thờ phượng đến ai (vật gi) khác ngoài Allah.

· Tiểu Shirk được biểu hiện bằng trái tim, lời nói và hành động.

- Thí dụ về tiểu Shirk bằng trái tim: Tin vào các nguyên nhân mà Allah đã không qui định cho chúng làm nguyên nhân hợp giáo luật và chúng không có tác dụng, chẳng hạn như tin vào các sợi dây bùa chú dùng để đeo lên người hay treo ở một nơi nào đó để xua đuổi tà ma và giải nạn.

- Thí dụ về tiều Shitk bằng hành động thể xác: Riya' (sự phô trương), một người dâng lễ nguyện Salah một cách chu đáo, y thực hiện lễ nguyện Salah một cách chỉnh chu trước mọi người vì muốn để mọi người khen ngợi và kính trọng rằng y rất ngoan đạo.

Đây là Shirk nhỏ bởi vì y chưa hoàn toàn thành tâm hướng về Allah, nhưng không phải Shirk lớn vì y không thờ phượng ai (vật gì) khác ngoài Allah.

- Thí dụ về tiểu Shirk bằng lời nói: Câu nói “Đó là điều Allah và anh muốn", thề thốt bởi ai (vật gì) khác ngoài Allah, và câu nói “Chúng ta được ban mưa vì ngôi sao này, ngôi sao này".

Tiểu Shirk không khiến một người bị trục xuất khỏi tôn giáo, cũng không làm cho một người bị đày mãi mãi và vĩnh viễn trong Hỏa Ngục, tuy nhiên, nó là đại trọng tội bắt buộc những ai phạm vào phải ăn năn sám hối với Allah, nếu như không tỉnh ngộ sám hối thì quả thật họ đã đem bản thân của mình ra hứng chịu cơn phẫn nộ của Allah và hình phạt đau đớn của Ngài.
บริการ AI