Bài học thứ mười hai Những Điều Làm Hỏng Islam
Khi nào chúng ta biết được rằng người bề tôi không thể trở thành người Muslim trừ phi đã chứng nhận lời tuyên thệ Shahadah: “Không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Allah và Muhammad là vị Thiên sứ của Ngài", rồi thờ phượng một mình Allah duy nhất, tuân thủ theo sự hướng dẫn và dạy bảo của Thiên sứ e; khi nào chúng ta biết rằng lời chứng nhận “Không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Allah" là biểu hiện của Ikhlas (sự thành tâm) trong thờ phượng riêng một mình Allah duy nhất, sự thờ phượng dựa trên tình yêu, tôn vinh và tuân thủ; và khi nào chúng ta biết được rằng lời chứng nhận “Muhammad là vị Thiên sứ của Ngài" là biểu hiện tình yêu thương đối với Người, tin tưởng và tuân theo sự hướng dẫn của Người; thì chúng ta hãy biết rằng người nào nghịch lại với lời chứng nhận Shahadah này là người bị trục xuất khỏi tôn giáo Islam, là người phủ nhận Allah và Thiên sứ của Ngài, cho dù y có dâng lễ nguyện Salah, nhịn chay, và luôn khẳng định y là người Muslim đi chăng nữa.
Bởi lẽ đó, quả thật ai phủ nhận một điều gì đó trong các điều: Ikhlas trong thờ phượng Allah, yêu thương Ngài, tôn vinh Ngài, tuân thủ mệnh lệnh của Ngài, cũng như yêu thương Thiên sứ e, tin tưởng Người và tuân theo sự hướng dẫn, chỉ dạy của Người; thì y đã phủ nhận Islam của y.
Nếu sự phủ nhận này được thể hiện một cách công khai bên ngoài lẫn ở trong lòng tức phủ nhận lời chứng thực Shahadah và hoàn toàn không thực hiện một điều gì theo lời Shahadah thì đó là người vô đức tin thực thụ, còn nếu như bên ngoài biểu hiện Islam nhưng ở trong lòng lại phủ nhận nó thì đó là người Munafiq.
Còn đối với người nào đã là người Muslim thực thụ tức sau khi đã chứng nhận lời tuyên thệ Shahadah và thực hiện theo đúng nội dung ý nghĩa của nó, rồi sau đó phủ nhận một trong các điều trên thì y là kẻ bị trục xuất khỏi tôn giáo Islam.
Sự bị trục xuất khỏi Islam có thể bằng lời nói, hành động, hoặc bằng tâm niệm, nếu như nó thể hiện sự phủ nhận bản chất thực sự của lời Shahadah: “Không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Allah và Muhammad là vị Thiên sứ của Ngài".
Những hình ảnh làm hỏng Islam, những điều khiến bị trục xuất khỏi Islam rất nhiều không thể liệt kê hết, tuy nhiên, có thể liệt kê một số điều tiêu biểu dưới đây:
Ø Điều thứ nhất: Thuyết vô thần, tức phủ nhận hoàn toàn sự tồn tại của Allah. Những hình ảnh của điều này:
· Cho rằng mọi sự tạo hóa tức vũ trụ càn khôn này tự nhiên mà có.
· Cho rằng thế giới vũ trụ này sẽ tồn tại mãi mãi, và tất cả mọi sự vật không có khởi điểm trong sự vô tận.
Ø Điều thứ hai: Đại Shirk, nhận lấy thần linh ngang hàng cùng với Allah, bao gồm các dạng:
Ø Dạng thứ nhất: Shirk trong thờ phượng, đó là hướng một hình thức thờ phượng nào đó trong các hình thức thờ phượng đến với ai (vật gì) khác ngoài Allah chẳng hạn như: Du-a (cầu nguyện), giết tế, nguyện thề, cầu xin phù hộ, ...
Một số hình ảnh cho dạng Shirk này: Những người thờ phượng các bụt tượng, thờ phượng các vị Nabi, thờ phượng những người ngoan đạo, những người này cầu nguyện đến họ thay vì cầu nguyện Allah, nhờ họ can thiệp với Ngài, van xin khấn vái họ ban phúc lành và tránh điều dữ.
Ai làm như thế thì người đó là người thờ đa thần vô đức tin, còn nếu như y làm thế nhưng y vẫn khẳng định rằng y là người Muslim, y luôn nói “لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ", y dâng lễ nguyện Salah, y bố thí, y nhịn chay, đi hành hương và làm điều thiện tốt thì y đã phạm vào đại Shirk làm mất đi toàn bộ giá trị của mọi việc làm, phủ nhận tôn giáo Islam.
Ø Dạng thứ hai: Shirk trong Rububiyah (sự tạo hóa, chi phối và điều hành vũ trụ). Một số hình ảnh của dạng này:
1- Một số người thờ đa thần tin rằng các thần linh của họ có quyền năng chi phối vũ trụ, rằng chúng biết về cõi vô hình, chúng có khả năng ban mưa, ban bổng lộc, có khả năng làm cho khỏi bệnh, ban cho con cái, vợ chồng, và tiền bạc, rằng chúng có quyền năng xua đuổi những tai họa, và có khả năng nghe thấy và đáp lại lời nguyện cầu.
2- Những người thờ lửa tin rằng vũ trụ này được tạo ra từ hai đấng tạo hóa: ánh sáng và bóng tối.
3- Một số người thái quá của phái Sufi và Shi'ah tin rằng một số vị Imam, một số vị chức sắc của họ biết được những điều vô hình, họ có khả năng chi phối vũ trụ, họ có khả năng đáp lại lời cầu nguyện và ngăn chặn điều dữ.
Và một trong những điều thuộc dạng Shirk trong Rububiyah nữa, đó là xét xử bằng các luật không thuộc đạo luật của Allah ban xuống. Người nào phán xét bằng các luật không phải là đạo luật được ban xuống từ Allah thì người đó là tà thần bởi y đã tự cho bản thân y có quyền năng ngang hàng với Allah trong việc ban hành đạo luật.
Ø Dạng thứ ba: Shirk trong tuân lệnh, đó là tuân theo những người chức sắc và quyền hành làm những điều Allah qui định Haram và cấm làm điều Allah cho phép.
Một số hình ảnh của dạng này:
1- Nhờ tà thần xét xử, người nào nhờ tà thần xét xử một cách có chủ đích thì y là kẻ vô đức tin, không phải là người có đức tin nữa, bởi Allah đã phán:
﴿ أَلَمۡ تَرَ إِلَى ٱلَّذِينَ يَزۡعُمُونَ أَنَّهُمۡ ءَامَنُواْ بِمَآ أُنزِلَ إِلَيۡكَ وَمَآ أُنزِلَ مِن قَبۡلِكَ يُرِيدُونَ أَن يَتَحَاكَمُوٓاْ إِلَى ٱلطَّٰغُوتِ وَقَدۡ أُمِرُوٓاْ أَن يَكۡفُرُواْ بِهِۦۖ وَيُرِيدُ ٱلشَّيۡطَٰنُ أَن يُضِلَّهُمۡ ضَلَٰلَۢا بَعِيدٗا ٦٠ ﴾ [سورة النساء: 60]
{Há Ngươi (Muhammad!) không lưu ý đến những kẻ đã xác nhận việc chúng tin nơi điều (mặc khải) đã được ban xuống cho Ngươi và nơi điều đã được xuống vào thời trước Ngươi hay sao? Chúng muốn nhờ Tà thần xét xử công việc của chúng trong lúc chúng được lệnh phải tẩy chay Tà thần. Và Shaytan muốn dắt chúng lạc xa khỏi đạo.} (Chương 4 – Annisa, câu 60).
ü Tuy nhiên, đối với một đất nước hay một xứ sở nào đó không áp dụng đạo luật của Allah ban hành, nhưng có một vấn đề cần phải được làm sáng tỏ để trả lại công bằng thì người Muslim được phép nhờ đến một số người mà y cho rằng họ là những người luôn giữ công lý. Trường hợp này y không phải là kẻ vô đức tin nơi Allah và Thiên sứ của Ngài, bởi câu nói của Nabi e với các vị Sahabah của Người khi Người cho phép họ di cư đến xứ Habashah:
« إِنَّ بِأَرْضِ الْحَبَشَةِ مَلِكًا لَا يُظْلَمُ أَحَدٌ عِنْدَهُ، فَالْحَقُوْا بِبِلاَدِهِ حَتَّى يَجْعَلَ اللهُ لَكُمْ فَرَجًا وَمَخْرَجًا مِمَّا أَنْتُمْ فِيْهِ » رواه البيهقي من حديث أم سلمة بإسناد حسن.
“Quả thật, ở tại vùng đất Alhabashah có một vị vua không đối xử bất công với bất cứ ai, bởi thế, các ngươi hãy đến tị nạn ở xứ sở của ông ta cho tới khi Allah mở cho các ngươi một lối thoát." (Hadith do Albayhaqi ghi lại theo lời thuật của Ummu Salabah với đường dẫn truyền tốt).
Và đức Vua của xứ Alhabashah, Annaja-shi, lúc bấy giờ chưa vào Islam, và khi có vấn đề gì đó bất công thì họ đã nhờ đến sự phán xét của ông ta. Đây là bằng chứng cho phép nhờ phán xét đến ai đó mà chúng ta biết y có thể phán xét một cách công bằng.
Người Muslim trong trường hợp khẩn cấp cần đến một người nào đó phán xét (không theo luật của Allah) nhằm đòi lại công bằng cho y vì không còn cách nào khác thì đây không phải là vô đức tin.
Còn nếu như nhờ đến một ai đó được thờ phượng cùng với Allah để phán xét như nhờ các thầy bói, thầy bùa, ... thì không được phép.
2- Tuân theo các vị học giả xấu và những người xét xử không theo luật của tà thần trong việc cho phép làm điều Haram và cấm làm điều Halal (cho phép) và cho rằng đó là luật của Allah.
Ø Điều thứ ba: Tự cho bản thân có những đặc điểm của Allah về Rububiyah (sự tạo hóa, chi phối và điều hành), hoặc Uluhiyah (quyền được thờ phượng), hoặc các tên gọi cũng như thuộc tính siêu việt của Ngài.
Một số hình ảnh cho điều này:
1- Một số kẻ đã kêu gọi mọi người thờ phượng bản thân họ.
2- Tự cho bản thân biết những điều ở cõi vô hình.
3- Tự xưng có quyền năng làm cho người chết sống lại.
Ø Điều thứ tư: Tự xưng là người mang sứ mạng Nabi. Tất cả giới học giả đều đồng thuận rằng người nào tự xưng là người mang sứ mạng Nabi là kẻ vô đức tin.
Cũng nằm trong điều này là ai đó tự xưng có khả năng ban xuống một thứ gì đó giống như Qur'an mà Allah đã ban xuống. Allah, Đấng Tối Cao phán:
﴿ وَمَنۡ أَظۡلَمُ مِمَّنِ ٱفۡتَرَىٰ عَلَى ٱللَّهِ كَذِبًا أَوۡ قَالَ أُوحِيَ إِلَيَّ وَلَمۡ يُوحَ إِلَيۡهِ شَيۡءٞ وَمَن قَالَ سَأُنزِلُ مِثۡلَ مَآ أَنزَلَ ٱللَّهُۗ ﴾ [سورة الأنعام: 93]
{Và còn ai sai quấy hơn kẻ đã đặt điều nói dối rồi đổ thừa cho Allah, hoặc y nói: “Tôi đã nhận được sự mặc khải" trong lúc y đã không nhận được điều mặc khải nào; và y đã nói: “Ta sẽ ban xuống điều giống như điều Allah ban xuống".} (Chương 6 – Al-An'am, câu 93).
Ø Điều thứ năm: Phủ nhận Allah và phủ nhận Thiên sứ của Ngài.
Người nào phủ nhận Allah và phủ nhận Thiên sứ của Ngài thì người đó là kẻ vô đức tin, không còn là người Muslim nữa, được đồng thuận từ tất cả giới học giả.
Một số hình ảnh cho điều này:
1- Bác bỏ những điều đã được biết rõ từ tôn giáo chẳng hạn như bác bỏ tính bắt buộc của việc dâng lễ nguyện Salah, hoặc Zakah, bác bỏ sự nghiêm cấm cho vay lấy lãi hoặc bác bỏ sự nghiêm cấm ăn thịt heo.
2- Phủ nhận một điều gì đó từ các tên gọi và thuộc tính của Allah, không phải là do không hiểu biết hoặc là chỉ mang tính suy diễn.
3- Phủ nhận một điều gì từ Kinh Qur'an.
4- Khẳng định có sự mâu thuẫn, khác biệt và biến dạng trong Kinh Qur'an.
5- Phủ nhận Sunnah của Nabi.
6- Phủ nhận sự phục sinh và thưởng phạt ở Đời Sau.
7- Không phủ nhận những ai đã không lấy Islam làm tôn giáo từ những người Do thái, Thiên Chúa, những người thờ lửa, những người vô thần và những người thờ bụt tượng.
8- Cho rằng một người được phép rời khỏi hệ thống giáo luật của Muhammmad e giống như AlKhadir được phép rời khỏi hệ thống giáo luật của Musa u.
9- Khẳng định một điều gì đó là Halal trong khi điều đó thực chất là Haram với bằng chứng đã rõ ràng, không cần phải suy luận và diễn giải gì cả.
10- Tin vào kẻ đã tự xưng đang mang sứ mạng Nabi.
11- Khẳng định rằng thông điệp mà Nabi e mang đến là chỉ dành riêng cho người Ả rập.
12- Khẳng định rằng Allah, Đấng Tối Cao, hài lòng việc người bề tôi cầu nguyện ai đó khác ngoài Ngài trong số những người ngoan đạo và những ai khác.
13- Vu khống người mẹ của những người có đức tin, bà A'ishah i, phu nhân của Nabi về điều mà Allah đã giải oan cho bà, và tương tự, vu khống cho những người mẹ khác của những người có đức tin.
Tất cả những gì được xác thực rằng nó phủ nhận Allah và phủ nhận Thiên sứ của Allah thì đều là những điều làm hỏng Islam. Tuy nhiên, phải nên phân biệt sự phủ nhận thông tin dựa trên cơ sở thiếu kiến thức hoặc do chưa được biết, hoặc chưa rõ, hoặc người phủ nhận chỉ suy luận nội dung ý nghĩa của thông tin, với sự phủ nhận những điều đã được rõ ràng không có sự bất đồng quan điểm trong giới học giả.
Ø Điều thứ sáu: Sự ngờ vực.
Sự ngờ vực phủ nhận niềm tin bắt buộc, người nào nghi ngờ trong việc tin tưởng thông điệp của Allah cũng như thông điệp của Thiên sứ của Ngài thì người đó là kẻ vô đức tin.
Phủ nhận, nghi ngờ là hai điều phủ nhận niềm tin bắt buộc.
Một số hình ảnh cho điều này:
1- Nghi ngờ về sự vô đức tin của những người không theo tôn giáo Islam.
2- Nghi ngờ về sự phục sinh sau khi chết.
3- Nghi ngờ về việc Qur'an được bảo toàn khỏi việc cải biên, bóp méo và chỉnh sửa.
Ø Điều thứ bảy: Ghét Allah và Thiên sứ của Ngài, và ghét tôn giáo Islam.
Ghét là phủ nhận tình yêu bắt buộc, người nào ghét Allah và Thiên sứ của Ngài hoặc ghét tôn giáo Islam thì y là kẻ vô đức tin, bị trục xuất khỏi tôn giáo Islam.
Những thứ cùng loại với điều này:
1- Chửi rủa Allah và Thiên sứ của Ngài, chửi rủa tôn giáo Islam, hạ thấp bản chất vĩ đại và thiêng liêng của Allah và địa vị của Nabi e.
2- Ghét các vị Sahabah, chửi rủa họ và khẳng định họ là những kẻ vô đức tin.
3- Ghét các vị Imam trong tôn giáo cũng như những học giả dẫn truyền lại các lời di huấn xác thực và gánh vác trọng trách giữ gìn và duy trì hệ thống giáo luật.
Ø Điều thứ tám: Chế giễu Allah, các lời phán của Ngài và Thiên sứ của Ngài, đây là sự vô đức tin phủ nhận tình yêu bắt buộc cũng như sự tôn vinh bắt buộc.
Những thứ cùng loại với điều này:
1- Xem thường quyển kinh Qur'an.
2- Xem nhẹ và khinh thường bất cứ một biểu hiệu nào trong các biểu hiệu của Islam.
Ø Điều thứ chín: Nhận lấy những người vô đức tin làm những người bảo hộ thay vì những người có đức tin, điều này gồm có hai điểm:
- Yêu thương những người vô đức tin về tôn giáo của họ, đồng thuận và hài lòng với tôn giáo của họ.
- Ủng hộ, giúp đỡ những người vô đức tin chống lại những người Muslim.
Một số hình ảnh cho điều này:
1- Thăm dò tình báo tình trạng của người Muslim để phục vụ việc cải thiện cho những người vô đức tin.
2- Chúc tụng những người vô đức tin về các đại lễ của họ, hài lòng với những điều họ làm trong việc Shirk và vô đức tin với Allah. Còn đối với ai tham gia cùng với họ, ăn cùng với họ, cùng nghe và thưởng thức những điều Haram với họ trong khi trái tim thì phủ nhận sự vô đức tin và Shirk của họ thì người đó đang ở trên bờ của sự hủy diệt, bởi vì nếu họ bị trừng phạt thì sự trừng phạt đó sẽ bao trùm cả y.
3- Dựng lên các nơi thờ phượng để thờ phượng ai (vật gì) khác ngoài Allah, hoặc giúp đỡ những kẻ vô đức tin dựng lên các nhà thờ, các tượng đài để làm nơi cầu nguyện ai (vật gì) khác ngoài Allah.
4- Gây chiến với những học giả, những người truyền giáo đang duy trì giáo luật Islam, tìm cách ngăn cản gây khó khăn cho họ trong việc kêu gọi mọi người đến với Islam.
5- Có những hành đồng gây yếu thế cho những người Muslim để người ngoại đạo có cơ hội chi phối và cai trị.
Ø Điều thứ mười: Sự quay lưng và chống đối.
Người nào quay lưng với sự tuân lệnh Allah và Thiên sứ của Ngài thì không phải la người Muslim, bởi y đã không chấp hành theo tôn giáo của Allah, y không thực hiện các bổn phận và nghĩa vụ cũng như không tránh những điều nghiêm cấm.
Một số hình ảnh cho điều này:
1- Một người thấy rằng việc tuân lệnh Allah và tuân lệnh Thiên sứ của Ngài là không bắt buộc, y không bắt buộc phải chấp hành theo đúng mệnh lệnh của Allah và mệnh lệnh của Thiên sứ của Ngài e.
2- Chống lại mệnh lệnh của Allah và Thiên sứ của Ngài e một cách hoàn toàn, không chịu tìm hiểu tôn giáo, không học hỏi những điều để tuân lệnh Allah và Thiên sứ của Ngài e.
Còn đối với ai biết rằng có bổn phần phải tuân lệnh Allah và Thiên sứ của Ngài e, y đã chấp hành theo nhưng có sai phạm vào một số điều trái lệnh thì y không phải là kẻ vô đức tin với những điều trái lệnh đó.
Một trong những điều nằm trong sự quay lưng và chống đối: là không dâng lễ nguyện Salah. Lễ nguyện Salah là trụ cột của tôn giáo, khi nào người bề tôi không thực hiện nó một cách hoàn toàn thì đó là sự chống đối với tôn giáo của Allah. Umar bin Alkhattab t nói: “Ai lơ là với nó thì đối với những bổn phận khác y càng lơ là hơn".
Những điều làm hỏng Islam được nêu trên đây là những điều phủ nhận hoàn toàn lời tuyên thệ Shahadah. Ai phạm vào một trong những điều này sau khi đã là người Muslim trong trạng thái có ý thức và không bị cưỡng ép thì người đó là kẻ vô đức tin bị trục xuất khỏi tôn giáo Islam. Nếu y chết trong tình trạng đó thì y sẽ phải ở trong Hỏa Ngục đời đời kiếp không có ngày trở ra. Allah, Đấng Tối Cao phán:
﴿ وَمَن يَرۡتَدِدۡ مِنكُمۡ عَن دِينِهِۦ فَيَمُتۡ وَهُوَ كَافِرٞ فَأُوْلَٰٓئِكَ حَبِطَتۡ أَعۡمَٰلُهُمۡ فِي ٱلدُّنۡيَا وَٱلۡأٓخِرَةِۖ وَأُوْلَٰٓئِكَ أَصۡحَٰبُ ٱلنَّارِۖ هُمۡ فِيهَا خَٰلِدُونَ ٢١٧ ﴾ [سورة البقرة: 217]
{Và ai trong các ngươi bỏ đạo và chết trong tình trạng không có đức tin thì sẽ là những người mà việc làm sẽ trở thành vô nghĩa ở đời này lẫn Đời sau. Và họ sẽ làm bạn với Hỏa ngục, họ sẽ ở trong đó đời đời.} (Chương 2 – Albaqarah, câu 217).
Còn người nào phạm vào một trong các điều làm hỏng Islam này ở trong lòng nhưng bền ngoài vẫn biểu hiện Islam thì y là kẻ Munafiq thuộc dạng đại Nifaq, chúng ta sẽ quan hệ đối xử bên ngoài với y cũng giống như những người Muslim bình thường, còn những gì thầm kín trong lòng y thì chúng ta phó thác cho Allah.