Khởi đầu của sự mặc khải

img

Marqoom

Danh mục :

Ngôn ngữ : Vietnamese

Lượt xem : 222

Thêm vào yêu thích : 0


Thiên Sứ Muhammad - cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người - là người mang phẩm chất đạo đức vĩ đại kể từ khi Allah tạo ra Người. Người dân của Người thường gọi Người là Assidiqul Al-Amin (người trung thực và đáng tin cậy). Người thường tham gia với họ vào những việc làm cao cả, Người ghét việc thờ cúng các thần linh bục tượng của họ và không tham gia vào những việc đó cùng họ.
Khi Người được bốn mươi tuổi, trong lúc Người ở Makkah, Allah đã chọn Người làm vị Thiên Sứ. Đại Thiên Thần Jibril (Gabriel) đã đến truyền cho Người những lời Mặc Khải đầu tiên, đó là chương Kinh Qur'an đầu tiên được Allah mặc khải:
{(1) Hãy đọc! Nhân danh Thượng Đế của Ngươi, Đấng đã tạo.
 (2) Đấng đã tạo ra con người từ một cục máu. 
(3) Hãy đọc! Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quảng Đại. (4) Đấng đã dạy bằng cây viết. (5) Đấng đã dạy con người điều y không biết.} [chương 96 - Al-'Alaq, câu 1 - 5].
Sau đó, Người quay về nhà vợ mình là Khadijah - cầu xin Allah hài lòng về bà - với tâm trạng lo sợ, cơ thể run rẩy, tim đập nhanh. Người đã kể lại sự việc cho bà và bà đã trấn an Người. Bà đã đưa Người đến gặp người anh họ của bà tên Waraqah bin Nawfal - và ông là người theo Cơ đốc giáo và đọc Tawrah (Kinh Cựu ước) và Injil (Kinh Tân ước). Bà Khadijah nói với anh họ của mình: Này anh họ, hãy nghe cháu trai của anh. Thế là ông Waraqah nói với Người: Này con trai của anh trai ta, cháu thấy gì? Thiên Sứ của Allah - cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người - đã kể lại cho ông ấy nghe về những gì Người đã thấy. Xong, ông Waraqah nói với Người: (Đây là Namus (đại Thiên Thần Jibril), mà Allah đã gửi xuống cho Nabi Musa. Ta ước gì ta vẫn còn tuổi thanh niên trai tráng vào lúc đó, ta ước gì ta sẽ còn sống đến khi dân của cháu trục xuất cháu khỏi xứ. Thiên Sứ của Allah nói: “Họ trục xuất tôi khỏi xứ sao?” Ông Waraqah nói: Đúng vậy, không có người đàn ông nào đến với thứ giống như những gì cháu mang đến mà lại không bị thù ghét. Và nếu ta còn sống cho đến ngày đó của cháu, thì ta sẽ quyết liệt phò trợ cháu). ()
Và tại Makkah, Qur’an được ban xuống cho Người, Đại Thiên Thần Jibril mang Nó xuống từ Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật, cũng như các chi tiết của thông điệp.
Người kêu gọi người dân của mình đến với Islam nhưng người dân của Người từ chối và chống đối Người. Họ yêu cầu Người từ bỏ sứ mạng truyền bức Thông Điệp để đổi lấy tiền tài và vương quyền, nhưng Người đã từ chối tất cả những điều đó. Họ đã nói với Người giống như những tên cầm quyền đã nói với các Thiên Sứ trước Người: một tên pháp sư, một kẻ dối trá, một kẻ vu khống. Và họ đã áp bức Người, tấn công cơ thể đáng kính của Người và bắt bớ những người theo Người. Tại Makkah, Thiên Sứ của Allah - cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người - vẫn tiếp tục kêu gọi mọi người đến với Allah vào mùa hành hương Hajj và các phiên chợ Ả-rập theo mùa. Người gặp gỡ mọi người và trình bày cho họ về Islam. Người không kêu gọi bằng sức mạnh của thể xác hay chức quyền hoặc bằng gươm đao, vì Người không có quyền hành và cũng không phải là vua. Người đã tuyên bố thách thức trong lời kêu gọi đầu tiên của mình rằng họ hãy mang một cái gì đó giống như Qur'an vĩ đại mà Người đã mang đến. Người tiếp tục thách thức những kẻ chống đối Người. Một số người đã tin nơi Người, và họ là những người bạn đồng hành đáng kính của Người - cầu xin Allah hài lòng với tất cả họ. Ở Makkah, Allah đã tôn vinh Người bằng một dấu hiệu lạ vĩ đại, đó là cuộc hành trình trong đêm đến Jerusalem, sau đó là sự thăng thiên lên trời. Và như đã biết, Allah đã đưa Nabi Ilyas (Elias) và Nabi Ysa (Giê-su) lên trời - cầu xin Allah ban bằng an cho hai người họ - như đã được đề cập ở nơi những người Muslim và Thiên Chúa giáo. Nabi - cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người - đã tiếp nhận mệnh lệnh lễ nguyện Salah trực tiếp từ Thượng Đế ở trên trời. Đó là lễ nguyện Salah mà người Muslim thực hiện năm lần một ngày. Và cũng tại Makkah linh thiêng, đã có một dấu hiệu lạ vĩ đại khác xảy ra, đó là sự tách đôi của mặt trăng, nó diễn ra trước sự chứng kiến của những kẻ đa thần.
Những kẻ ngoại đạo Quraish đã dùng mọi cách để ngăn cản Người. Họ âm mưu chống phá Người và cố làm cho mọi người xa lánh Người, họ đòi Người trưng bày những dấu hiệu lạ, họ tìm kiếm sự giúp đỡ của người Do Thái để cung cấp cho họ những lý lẽ giúp họ tranh luận với Người và khiến mọi người quay lưng lại với Người.
Khi cuộc đàn áp của những kẻ ngoại đạo Quraish dâng cao đối với các tín đồ Muslim, Nabi - cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người - đã cho phép họ di cư đến Abyssinia (E-ti-ô-bi-a), Người nói với họ rằng có một vị vua công bình ở nơi đó và không ai bị đối xử bất công ở chỗ ngài cả. Và vị vua đó là một vị vua Cơ đốc giáo. Vì vậy, hai nhóm người trong số họ đã di cư đến Abyssinia. Khi họ tới Abyssinia, họ đã trình bày cho Vua Negus tôn giáo mà Nabi Muhammad - cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người - đã mang đến. Vua Negus đã chấp nhận Islam và nói: Thề bởi Allah, đây là điều mà Nabi Musa đã mang đến để đưa người dân của Người ra khỏi nơi tăm tối, và Người và những người theo Người đã bị gây hại.
Một số người đã tin nơi Thiên Sứ Muhammad trong suốt mùa hành hương Hajj là một nhóm những người đến từ Madinah. Họ cam kết trung thành với Islam và cam kết ủng hộ Người nếu Người chuyển đến thành phố của họ, và lúc đó nó được gọi là (Yathrib). Thiên Sứ Muhammad đã cho phép những người Muslim còn lại ở Makkah di cư đến Madinah. Họ di cư và Islam sau đó đã lan rộng khắp Madinah cho đến khi tất cả mọi ngôi nhà trong đó đều chấp nhận Islam.
Sau khi Nabi Muhammad - cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người - đã trải qua mười ba năm ở Makkah kêu gọi mọi người đến với Allah, Allah cho phép Người di cư đến Madinah. Vì vậy, Người đã di cư và tiếp tục sứ mạng kêu gọi đến với Allah.
Tại Madinah, các giáo luật của Islam dần dần được ban xuống, và Người bắt đầu gửi các sứ giả của mình mang các bức thư đến các thủ lĩnh của các bộ lạc và các vị vua, mời gọi họ chấp nhận Islam. Và một trong số những người mà Thiên Sứ Muhammad đã gửi thư đến họ là vua La Mã, vua Ba Tư, và vua Ai Cập.
Ở Madinah, đã xảy ra hiện tượng nhật thực khiến dân chúng hoảng sợ. Sự kiện này diễn ra trùng hợp với cái chết của Ibrahim, con trai của Thiên Sứ Muhammad - cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người, vì vậy, dân chúng nói: mặt trời bị che khuất là do cái chết của Ibrahim. Thiên Sứ của Allah nói: “Mặt trời và mặt trăng không bị che khuất bởi cái chết hay sự sống của một ai đó, mà chúng là một trong số các dấu hiệu của Allah, Allah dùng chúng để gây nỗi sợ hãi cho đám bề tôi của Ngài” 
Nếu Thiên Sứ Muhammad - cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người - là một kẻ hay nói dối trong sứ mạng kêu gọi thì chắc chắn Người sẽ nhanh chóng làm mọi người sợ hãi để che đậy cho sự dối trá của mình và nói rằng mặt trời đã bị che khuất bởi cái chết của con trai ta. Và lúc đó, còn ai dám phủ nhận Người.
Allah đã phú cho Thiên Sứ Muhammad - cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người - phẩm chất đạo đức hoàn hảo, Ngài mô tả Người với lời phán: {Và quả thật, Ngươi là người có phẩm chất đạo đức vĩ đại.} [chương 68 - Al-Qalam, câu 4]. Thiên Sứ Muhammad là người mang tất cả các phẩm chất đạo đức tốt đẹp như trung thực, chân thành, can đảm, công bằng và giữ chữ tín ngay cả với kẻ thù. Người rộng lượng và thích bố thí giúp đỡ người nghèo, người thiếu thốn, và góa bụa. Người quan tâm đến việc hướng dẫn họ, Người thương xót họ và khiêm tốn đối với họ. Sự khiêm tốn của Người được thể hiện: khi người đàn ông lạ mặt đến tìm Người trong lúc Người đang ở cùng với các vị Bạn đạo của Người và hỏi "Ai trong các người là Muhammad?" vì y không thể nhận biết do giữa Người và các vị Bạn đạo của Người không có sự phân biệt trên dưới.
Cuộc sống của Người là một dấu hiệu của sự hoàn hảo và cao thượng trong cách đối xử tử tế với mọi người: kẻ thù và bạn bè, bà con gần xa, già và trẻ, đàn ông và phụ nữ, thú vật và chim muông.
Khi Allah hoàn thành tôn giáo cho Thiên Sứ Muhammad, Người đã toàn lực và tận sức truyền bá bức Thông Điệp. Người qua đời ở tuổi sáu mươi ba, trong đó bốn mươi năm trước sứ mạng Nabi và hai mươi ba năm là một vị Nabi và một vị Thiên Sứ. Người được chôn cất tại Madinah Nabawiyah - cầu Allah ban bằng an và phúc lành cho Người. Người chết đi không để lại tiền bạc hay bất cứ tài sản thừa kế nào ngoại trừ con la màu trắng mà Người thường cưỡi và một miếng đất mà Người đã dùng làm Sadaqah cho những người lỡ đường.  
Số lượng những người vào Islam, tin tưởng Người và hứa trung thành với Người rất đông. Có hơn một trăm nghìn các vị Bạn đạo của Người đã hành hương cùng với Người trong lần hành hương chia tay, đó là vào thời điểm khoảng ba tháng trước khi Người qua đời. Và có lẽ đây là một trong những bí quyết bảo tồn và truyền bá tôn giáo của Người. Quả thật, các vị Bạn đạo của Người, những người mà Người đã chăm sóc họ trên giá trị và nền tảng của Islam, là những người tốt nhất về sự công bằng, về đời sống khổ hạnh, về sự tận tụy, về lòng trung thành cũng như về sự tận tâm của họ đối với tôn giáo vĩ đại mà họ tin tưởng.
Những người vĩ đại nhất trong số các vị Bạn đạo của Người - cầu xin Allah hài lòng với tất cả họ - về đức tin, kiến ​​thức, hành động, sự chân thành, trung thực, cống hiến, can đảm và hào phóng: Abu Bakr Assiddiq, 'Umar bin Al-Khattab, 'Uthman bin 'Affan và 'Ali bin Abi Talib. Họ nằm trong số những người đầu tiên tin vào Người, và họ là những vị Khalif (tức người nối nghiệp) sau Người, những người mang biểu ngữ tôn giáo sau Người, tuy nhiên, họ không mang bất kỳ đặc điểm gì của sứ mạng Nabi, và cũng không có bất cứ điều gì riêng biệt so với những vị Bạn đạo còn lại.
Allah đã bảo tồn Kinh Sách của Ngài, Kinh Sách mà Thiên Sứ Muhammad mang đến, cũng như đường lối, tiểu sử, lời nói và hành động của Người bằng ngôn ngữ mà Người nói. Vì vậy không có tiểu sử nào được lưu giữ - trong suốt lịch sử - như tiểu sử của Người, nó được lưu giữ ngay cả việc Người ngủ, ăn, uống và cười như thế nào. Cách Người cư xử với gia đình trong nhà? Tất cả các tình huống của Người đều được lưu giữ và ghi lại trong tiểu sử của Người, vì Người là một vị sứ giả phàm tục không mang bất cứ đặc điểm gì của thần thánh, và Người cũng không nắm giữ bất kỳ điều lợi nào cho bản thân hay quyền năng gây hại nào cho người khác.